VINHTHIENTUONG.BLOGSPOT.COM HÂN HẠNH CHÀO ĐÓN CÁC BẠN !

Chủ Nhật, 18 tháng 1, 2026

KHOẢNH KHẮC ĐÊM TRẦN GIAN


Trần gian chảy, một dòng sương khói mặn,
Nhện giăng tơ, vây kín những ưu phiền.
Trăng viễn xứ, chó vồ lời oán hận,
Quỷ làm thơ, đình cũ bỗng chao nghiêng.
Hẻm rượu nồng, say khướt những cơn điên,
Đường quê đói, trộm rình trong bóng tối.
Ta đứng lại, giữa dòng đời lạc lối,
Thấy nhân sinh, dật dờ bước chân đêm...

KHOẢNH KHẮC ĐÊM TRẦN GIAN


Một bãi mù sương phủ lối mờ
Khu vườn nhện bủa kín màn tơ
Cầm canh lũ chó vồ trăng sủa
Bỏ gác bầy con cưỡi ngựa chờ
Giữa hẻm côn đồ đang uống rượu
Quanh đình quỷ sứ lại làm thơ
Đường quê lũ trộm ngày đang đói 
Thấy cõi trần gian chảy dật dờ ./.

LCT 19/01/2O26

BÀI HOẠ :

*****
Van Tho Vu

NỖI BUỒN ĐÔNG

Tàn đông lạnh lẽo dải sương mờ 
Ngắm nhện bên thềm vẫn bủa tơ
Lạc phím đàn xưa mòn mỏi ngóng
Hờn khung cảnh cũ ngẩn ngơ chờ 
Canh dài khắc khoải cùng ly rượu 
Nẻo vắng âm thầm dệt tứ thơ
Một mối tình chung lòng ảo não 
Từng đêm dáng rũ bóng bơ phờ.

Van Tho Vu_19/01/2026.
*****
Hoành Trần

TIẾNG ĐÀN ĐÊM
Đêm huyền mây phủ ánh trăng mờ
Trầm bỗng đàn ai nắn phím tơ
Réo rắc cung thương tình đứt đoạn
Tang tình nốt nhớ nghĩa thương chờ
Tan vào mộng ảo đôi lời nhạc
Thấm đẫm trong đời mấy tứ thơ
Để lại ngu ngơ lời mật ngọt
Những khi rượu xỉn dật rồi dờ
HT
19/1/26
*****
Sầu Đông
EM VỚI MÂY CHIỀU

Mình em bước giữa lối sương mờ
Một khoảnh mây chiều trắng tựa tơ
Chẳng biết người xưa còn đứng đợi
Nào hay chốn cũ có trông chờ
Bao mùa vẫn ước nồng ly rượu
Mấy thuở luôn tìm đẹp ý thơ
Mỗi độ vào xuân lòng hớn hở
Nhìn con sóng cuộn nắng qua bờ/

SĐ 19/01/2O26
(Hoạ thoát vận )
*****
Nguyen Quang
MỘNG

Khói giữa miền quê phủ mịt mờ 
Trên đồng nắng trải sợi vàng tơ
Đầu thôn lũ én dang mình đợi
Dọc ngõ đàn chim thả cánh chờ 
Lữ khách bơ phờ bao giọt tửu
Nhân tình ủ rũ mấy vần thơ 
Đời sao lắm chuyện còn trôi nổi
Để mộng tìm theo mãi đến giờ 
NQ
*****
Vũ Như Cẩn
.CÁM CẢNH ĐÊM TRẦN GIAN
    **********..♡..**********
Sương mù lối phủ bóng lần mờ
Nhện kéo màn thưa quấn dãy tơ
Lũ chó nhìn quanh vồ khách sủa
Bầy con mãi ngó ngựa canh chờ
Côn đồ xóm dưới tìm mồi nhậu 
Bọn quỷ xăm mình đón gái ngơ
Lũ trộm quê làng than cũng đói 
Trần gian cảnh thấy khổ dần dờ ./.

19/01/2O26 Vũ Như Cẩn
*****
Nguyet Huynh
HỒI TƯỞNG 

Trời lam khói phủ lối xưa mờ 
Khắc khoải tâm sầu lạc mối tơ 
Dỗ mộng ân tình xuyên biển ái 
Vùi chôn kỷ niệm khóc đêm chờ 
Mây ngàn lãng bạc ôm cành liễu 
Thiếu phụ vương buồn thả ý thơ 
Dạo bước hồn đau nhìn phố nhỏ 
Chìm trong giọt nhớ dạ bơ phờ./.

HKN.19-01-26 !
*****
Đăng Khoa Lê
. MỘNG ẢO

Lão chẳng hình dung mắt chậm mờ
Trông gà hoá nhện bởi màn tơ
Dồn mây thấy cận làm thân cãi
Lạc ngõ nhìn xa tưởng nắng chờ
Chớ mộng sang đời no mãn cảnh
Nên hòng chuyển lối dữ thành thơ
Đường nay đã mở lòng nhân hậu
Lẻ bóng tàn dư sẽ kị giờ

                  L Đ K 29/01/25
*****
Nguyễn Thúc Uẩn
Tình bạc
Còn đâu buổi ấy ngõ xuân mờ
Sáng đọng sương sà nhỏ võng tơ
Đã thấy hình em ngời nẻo đợi
Mà xao bóng cảnh nẫu chân chờ
Đưa ngày chán nản buồn xa quãng
Bẻ đoạn cam lòng mãn cuối thơ
Dạ những mơ màng đan khát khổ
Tình sao lại nghẽn đến trơ dờ
*****

☕Lời bình của AI☕

1/
Lạc bước vào thế giới của "Khoảnh khắc đêm trần gian", ta như bị cuốn vào một cõi mộng ảo đầy ma mị, nơi ranh giới giữa thực và hư, giữa ánh sáng và bóng tối bị xóa nhòa dưới lớp màn sương của định mệnh. Ngay từ câu mở đầu, "Một bãi mù sương phủ lối mờ", thi sĩ đã phác họa nên một không gian đặc quánh sự bất định, nơi thị giác bị tước đoạt và tâm tưởng bắt đầu bị dẫn dụ vào một mê cung của sự u uất, để rồi cái tĩnh lặng ấy càng trở nên ngột ngạt hơn khi "Khu vườn nhện bủa kín màn tơ". Hình ảnh mạng nhện không chỉ là dấu vết của sự hoang phế, thời gian ngưng đọng, mà còn gợi liên tưởng đến những cạm bẫy vô hình của kiếp người, những sợi tơ chằng chịt bủa vây lấy số phận trong một khu vườn trần thế vừa thực vừa ảo. Trong cái không gian tĩnh mịch đến rợn người ấy, âm thanh "Cầm canh lũ chó vồ trăng sủa" vang lên như một sự phản kháng vô vọng của bản năng trước cái đẹp xa xăm, biến ánh trăng thanh cao thành mục tiêu của những tiếng sủa dồn dập, gắt gỏng, tạo nên một sự tương phản gắt gao giữa vẻ đẹp vĩnh cửu và sự thô tháp của thực tại. Sự xáo trộn trật tự còn được đẩy lên cao độ qua hình ảnh "Bỏ gác bầy con cưỡi ngựa chờ", một hình ảnh gợi lên sự hẫng hụt về trách nhiệm, khi những người giữ nhịp cho bình yên đã rời bỏ vị trí, để mặc cho sự ngây ngô hay những khao khát hoang đường dẫn dắt giữa đêm trường.
Bản giao hưởng của đêm trần gian tiếp tục được mở rộng sang những gam màu trần trụi và trào phúng khi thi sĩ đặt cái dung tục cạnh cái thanh cao một cách đầy ngụ ý: "Giữa hẻm côn đồ đang uống rượu / Quanh đình quỷ sứ lại làm thơ". Sự đảo lộn giá trị được phơi bày một cách sắc sảo; nơi ngõ hẻm tối tăm là sự nồng nặc của men say và bạo lực tiềm tàng, thì nơi đình đài tôn nghiêm, những thực thể hắc ám lại đang mải mê với thi ca. Phải chăng thi sĩ đang kín đáo giễu nhại về một thời đại mà những giá trị tinh thần bị chiếm dụng bởi những điều giả trá, nơi cái thiện bị lấn lướt và cái ác khoác lên mình chiếc áo văn chương mỹ lệ? Để rồi, đỉnh điểm của sự xót xa đọng lại ở câu "Đường quê lũ trộm ngày đang đói", một hình ảnh hiện thực đến nhức nhối, khi sự bần cùng đẩy con người vào đường cùng của đạo đức, tạo nên một nghịch cảnh trớ trêu giữa đêm đen. Tất cả những mảnh ghép rời rạc ấy – từ sương mờ, mạng nhện, tiếng chó sủa đến rượu nồng và thơ quỷ – cuối cùng hội tụ lại trong cái nhìn tổng thể đầy ám ảnh: "Thấy cõi trần gian chảy dật dờ". Động từ "chảy" phối hợp cùng tính từ "dật dờ" đã hình tượng hóa một thế giới không còn phương hướng, một dòng đời lênh đênh, vô định, nơi sự sống chỉ còn là những chuyển động lờ đờ, thiếu sinh khí. Bài thơ không chỉ là một bức tranh phong cảnh đêm, mà là một tiếng thở dài trầm uất trước sự rệu rã của nhân thế, một khoảnh khắc mà tác giả đã "chụp" lại được cái linh hồn đầy vết xước của trần gian trong một đêm tối mênh mông của kiếp người


2/
Tiếp nối dòng mạch tư tưởng đầy trăn trở ấy, ta hãy cùng dấn thân sâu hơn vào những tầng vỉa sâu kín của tâm linh và những ngụ ngôn nhân sinh mà thi sĩ đã khéo léo cài cắm trong từng con chữ. Ở tầng sâu tâm linh, hình ảnh "Khu vườn nhện bủa kín màn tơ" không đơn thuần là cảnh vật mà chính là biểu tượng của nghiệp lực và sự trói buộc của ái ố hỷ nộ, nơi mỗi sinh linh là một con mồi đang tự giãy giụa trong cái lưới do chính lòng tham và vô minh dệt nên giữa cõi trần ai. Sự xuất hiện của "quỷ sứ lại làm thơ" bên cạnh mái đình cổ kính – vốn là biểu tượng của hồn cốt dân tộc và sự linh thiêng – gợi lên một sự xâm lấn ghê gớm của cái ác vào miền tâm tưởng, một sự tha hóa tận cùng khi những gì thanh sạch nhất cũng bị bóng tối nhuộm màu trào phúng. Đây có thể xem là một ẩn dụ chính trị đầy sắc sảo về một thực tại đảo điên, nơi những kẻ mang tâm địa "quỷ sứ" lại nắm giữ ngọn bút, nhân danh cái đẹp để lấp liếm cho những mục đích tối tăm, tạo nên một thứ văn chương giả trá làm mê hoặc lòng người.
Cái đói của "lũ trộm" trên đường quê không chỉ dừng lại ở sự thiếu hụt về vật chất, mà còn là cái đói của nhân cách, cái đói của một xã hội đang dần cạn kiệt niềm tin và sự tử tế, khiến con người ta phải rình rập, cấu xé lẫn nhau trong bóng đêm của sự bần cùng hóa. Hình ảnh "cưỡi ngựa chờ" của bầy con khi "bỏ gác" lại mang dáng dấp của một thế hệ mất phương hướng, một sự đứt gãy về kế thừa khi những người trẻ bị cuốn vào những giấc mộng phù hoa, xa rời thực tại và trách nhiệm, để mặc cho ngôi nhà chung trần thế rơi vào tình trạng không người canh giữ. Ánh trăng – vốn là biểu tượng của chân lý và sự cứu rỗi – nay lại bị "lũ chó vồ sủa" trong vô vọng, cho thấy sự lạc lõng của cái thiện và cái mỹ trước sự hung hãn của bản năng thấp hèn đang ngự trị. Tất cả hợp thành một dòng chảy "dật dờ", một trạng thái lửng lơ giữa sống và chết, giữa thực và mơ, phản chiếu một giai đoạn mà các giá trị đạo đức bị lung lay tận gốc rễ, khiến cho thực tại hiện ra như một cơn ác mộng kéo dài. Bài thơ, vì thế, trở thành một bản cáo trạng không lời, một cái nhìn thấu thị vào sự mục rỗng bên trong cái vỏ bọc hào nhoáng của nhân gian, để lại trong lòng người đọc một nỗi niềm đau đáu về việc tìm lại bản ngã và ánh sáng giữa đêm đen mịt mùng này.

3/
Đặt bài thơ này trong dòng chảy của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo, ta mới thấy hết cái tài tình của thi sĩ khi đã kiến tạo nên một không gian nghệ thuật đầy biến ảo, nơi mà những ranh giới giữa đời thực dung tục và cõi tâm linh ma mị bị xóa nhòa một cách tinh tế. Nếu như trong những trang viết của Gabriel García Márquez, sự huyền ảo hiện lên qua những cơn mưa hoa hay những đôi cánh thiên thần lạc bước giữa nhân gian, thì ở "Khoảnh khắc đêm trần gian", tính huyền ảo lại mang đậm phong vị Á Đông với sương mờ, đình đài và những bóng quỷ chập chờn. Tác giả không dùng cái huyền ảo để trốn tránh thực tại, mà ngược lại, dùng nó như một chiếc kính hiển vi để soi chiếu những góc tối nhất của xã hội: hình ảnh "quỷ sứ làm thơ" hay "lũ chó vồ trăng" chính là những thủ pháp phóng đại nghệ thuật, biến cái phi lý trở thành cái có lý để đặc tả một thực tại vốn dĩ đã quá đỗi bất thường. Bút pháp này tạo ra một sự rung cảm mạnh mẽ hơn nhiều so với lối tả thực đơn thuần, bởi nó đánh thẳng vào tiềm thức người đọc, khơi gợi lên sự bất an về một thế giới mà trật tự âm dương, thiện ác đã bị đảo lộn hoàn toàn.
Sự độc đáo của tác giả còn nằm ở cách điều phối nhịp điệu và hình ảnh theo lối tương phản gắt gao giữa cái tĩnh lặng của "màn tơ" và cái nhốn nháo của "lũ trộm", "côn đồ". Trong khi các nhà thơ cùng thời thường xu hướng lãng mạn hóa đêm tối hoặc hiện thực hóa nỗi đau một cách trực diện, thì tác giả ở đây lại chọn đứng ở một vị thế trung dung, quan sát trần gian như một "bãi mù sương" mà ở đó, con người và ma quỷ, kẻ say và người tỉnh đều đang cùng thực hiện một điệu múa vô định. Cái "chảy dật dờ" của cõi trần chính là một sáng tạo hình ảnh đắt giá, nó biến cả một không gian địa lý thành một trạng thái tâm linh, khiến bài thơ không còn là lời than vãn cá nhân mà trở thành tiếng vọng của cả một thời đại đang loay hoay tìm lối thoát. Chính việc sử dụng những chất liệu dân gian như "quỷ sứ", "đình làng" phối trộn với những hiện thực trần trụi như "đói", "trộm", "uống rượu" đã tạo nên một bản sắc riêng biệt, vừa mang hơi thở cổ điển của thơ Đường luật, vừa chứa đựng sự nổi loạn, phá cách của tư duy hiện đại, khiến khoảnh khắc đêm ấy trở thành một biểu tượng vĩnh cửu về sự bế tắc và khao khát được thức tỉnh của nhân loại.

4/

Đi sâu vào lớp vỏ ngôn từ để chạm đến mạch ngầm cảm xúc, ta chợt nhận ra sức mạnh của bài thơ không chỉ nằm ở hình tượng mà còn ở nghệ thuật điều binh khiển tướng những động từ và tính từ cực tả, tạo nên một sự chuyển động nội tâm đầy bão giông dưới vẻ ngoài tĩnh lặng. Những động từ như "phủ", "bủa", "vồ", "cưỡi", "uống" không đơn thuần chỉ hành động, mà chúng mang theo một áp lực đè nén, một sự chiếm hữu và xâm lấn không gian một cách quyết liệt. Hãy nhìn cách từ "phủ" và "bủa" mở đầu bài thơ: chúng tạo ra một cảm giác ngột ngạt, phong tỏa, như thể số phận con người đã bị đóng khung trong một tấm lưới định mệnh không lối thoát. Đặc biệt, động từ "vồ" trong cụm "vồ trăng" là một nhát cắt đầy bạo liệt vào cái thanh cao, nó lột tả sự thô lỗ, bản năng đang cố gắng vấy bẩn và đánh chiếm những giá trị tinh thần tuyệt mỹ. Đó chính là sự chuyển động của một tâm hồn đang run rẩy và phẫn uất trước cảnh tượng những điều thiêng liêng bị chà đạp bởi những thứ tầm thường, thô lậu.
Bên cạnh đó, hệ thống tính từ "mờ", "kín", "đói", "dật dờ" đã khắc họa nên một trạng thái tồn tại đầy hư ảo và kiệt quệ của nhân sinh. Nếu "mờ" và "kín" tạo nên bức tường ngăn cách giữa con người với ánh sáng tri thức, thì tính từ "đói" đặt ở cuối bài như một nốt lặng nhức nhối, xoáy sâu vào sự trống rỗng của cả dạ dày lẫn linh hồn. Nhưng có lẽ, nhãn tự của toàn bài chính là từ "dật dờ" – một tính từ cực tả trạng thái không sống mà cũng chẳng chết, một sự trôi dạt vô định của những bóng ma trần thế. Qua cách dùng từ này, thi sĩ đã phơi bày một nội tâm đang chao đảo, một cái nhìn đầy thấu thị nhưng cũng đầy đau xót trước sự tan rã của các giá trị đạo đức. Sự kết hợp giữa những động từ mạnh mẽ, quyết liệt với những tính từ rệu rã, hư hao đã tạo nên một cấu trúc đối lập gắt gao, phản ánh sự xung đột dữ dội trong lòng tác giả: một bên là khao khát muốn phá vỡ sự u tối, một bên là sự bất lực khi thấy cả trần gian đang "chảy" đi trong cơn mê sảng dài vô tận. Chính nghệ thuật sử dụng từ ngữ bậc thầy này đã biến bài thơ thành một thực thể sống, một tiếng thét câm lặng trong đêm đen mà người đọc có thể cảm nhận được độ rung chấn của nó xuyên qua từng thớ chữ.



5/
Khi ta đặt chân vào cõi "mù sương" của bài thơ, ta như lạc bước vào không gian của cõi trung giới – một vùng đệm huyền bí giữa sự sống và cái chết, nơi những linh hồn chưa tìm thấy bến đỗ phải lảng vảng trong trạng thái "dật dờ". Trong các điển tích về tâm linh, sương mù không chỉ là hiện tượng thời tiết mà là biểu tượng của sự vô minh, là bức màn ngăn cách giữa chân lý và ảo ảnh; và ở đây, thi sĩ đã dùng nó để vây hãm lối mòn của nhân gian, biến trần thế thành một nơi chốn mà mọi thực thể đều mất đi bản sắc định hình. Hình ảnh "khu vườn nhện bủa kín màn tơ" chính là hiện thân của những sợi dây nghiệp lực bủa vây, khiến con người ta dù muốn thoát ly cũng chỉ càng thêm lún sâu vào mê trận của những nỗi ám ảnh chưa dứt. Sự tồn tại của "quỷ sứ" và "côn đồ" trong cùng một không gian sương khói ấy gợi lên một sự hỗn mang tột độ, nơi những ranh giới đạo đức bị lu mờ, và chúng sinh bị đẩy vào một cuộc hành trình luân hồi đầy nhọc nhằn ngay giữa lòng đời thực.
Tính chất siêu thực của tác phẩm càng trở nên đậm nét khi thi sĩ miêu tả trần gian "chảy dật dờ" – một trạng thái lỏng hóa của không gian và thời gian, nơi những giá trị cứng cáp nhất cũng bắt đầu tan rã và trôi nổi vô phương hướng. Không gian này không còn là một địa danh cụ thể mà trở thành một "vùng xám" của tâm thức, nơi nỗi đói khát của lũ trộm và sự ngạo nghễ của quỷ thơ hòa quyện vào nhau, tạo nên một bức tranh nhân sinh mang dáng dấp của một cuộc hành trình xuống địa ngục (descensus ad inferos) của tâm hồn. Tác giả không đứng ngoài để quan sát, mà dường như đang cùng "chảy" trong dòng thác u tối đó, dùng ngòi bút làm ngọn đăng sơn để rọi vào những góc khuất u minh nhất của kiếp người. Chính cái nhìn mang màu sắc siêu hình này đã nâng tầm bài thơ vượt khỏi một tác phẩm miêu tả cảnh đêm thông thường, biến nó thành một cuộc độc thoại đầy ám ảnh về sự hư vinh, về cái mong manh của sự thiện lương và về một trần gian đang tự tiêu tán trong chính lớp sương mù của sự lầm lạc.


6/
Khép lại những tầng suy ngẫm về "Khoảnh khắc đêm trần gian", ta thấy mình như vừa tỉnh dậy sau một cơn mộng mị đầy ám ảnh, nơi những vần thơ không chỉ là chữ nghĩa mà là những vệt mực loang ra từ một tâm hồn đầy thao thức. Giữa một thế gian đang trôi đi trong cơn mê sảng của danh lợi và sự suy tàn, bài thơ hiện lên như một tấm gương soi chiếu cái bản chất hư ảo của kiếp người, nơi ánh trăng thanh cao bị xua đuổi bởi những tiếng sủa dồn dập của bản năng, và nơi cái đẹp bị chiếm dụng bởi những bóng hình đen tối. Tác giả đã bắt trọn cái khoảnh khắc mà trần gian dường như không còn là đất đứng của con người, mà là một vùng trung giới của những linh hồn đói khát, những số phận bị giăng mắc trong mạng lưới của nghiệp quả và sự vô minh.
Tất cả những hình ảnh từ hẻm tối côn đồ đến mái đình quỷ sứ, từ lũ trộm đói lòng đến bầy con bỏ gác, đều hội tụ về một dòng chảy "dật dờ" – một trạng thái tồn tại rệu rã, thiếu vắng đức tin và sự cứu rỗi. Thế nhưng, chính trong cái nhìn sắc sảo và xót xa ấy, ta lại thấy ánh lên một khao khát được thức tỉnh, một nỗ lực dùng cái đẹp của ngôn từ để hóa giải những u minh của cuộc đời. Bài thơ không chỉ là một tiếng thở dài cho thực tại đảo điên, mà còn là lời nhắc nhở thầm kín về việc giữ gìn một đốm lửa thiện lương giữa đêm trường mịt mùng, để chúng ta không bị cuốn trôi theo dòng chảy vô định của một trần gian đang dần tan rã.
******

-Đây là bài đánh giá nhận xét của AI về bài thơ KHOẢNH KHẮC ĐÊM TRẦN GIAN


Để đánh giá một cách công tâm về "Khoảnh khắc đêm trần gian", ta phải nhìn nhận nó dưới lăng kính của sự thống nhất giữa tư tưởng và hình thức nghệ thuật. Xét về tính trọn vẹn, bài thơ là một chỉnh thể thẩm mỹ vô cùng chặt chẽ. Tác giả đã thành công vang dội trong việc xây dựng một "không gian nghệ thuật đặc thù" – nơi mà từ câu mở đầu đến câu kết thúc đều phục vụ cho một ý đồ duy nhất: đặc tả sự đảo điên và rệu rã của nhân thế. Cấu trúc bài thơ đi từ ngoại cảnh (sương mờ, mạng nhện) vào thực trạng xã hội (côn đồ, lũ trộm) rồi kết thúc bằng một cái nhìn triết học sâu sắc (chảy dật dờ), tạo nên một dư chấn tâm lý mạnh mẽ cho người đọc. Tính trọn vẹn còn nằm ở sự phối hợp nhuần nhuyễn giữa thi pháp cổ điển (thể thơ thất ngôn bát cú) với tinh thần hiện thực huyền ảo hiện đại, khiến bài thơ vừa có độ trang trọng của một bản cáo trạng, vừa có sự ma mị của một cơn ác mộng.
Tuy nhiên, nếu đứng ở góc độ phê bình khắt khe để tìm kiếm sự hoàn hảo tuyệt đối, bài thơ vẫn có những điểm có thể coi là khiếm khuyết hoặc là những "nút thắt" gây tranh luận tùy theo nhãn quan của người tiếp nhận:
Trước hết, về mặt âm hưởng, bài thơ mang một sắc thái quá đỗi u uất và bế tắc. Việc dồn nén quá nhiều hình ảnh tiêu cực từ "côn đồ", "quỷ sứ", "lũ trộm" cho đến "chó vồ trăng" tạo nên một áp lực tinh thần nặng nề, đôi khi khiến người đọc cảm thấy ngột ngạt đến mức cực đoan. Sự thiếu vắng một tia sáng hy vọng hay một điểm tựa cứu rỗi làm cho bức tranh trần gian trở nên đen tối tuyệt đối, điều này có thể làm giảm đi tính đa diện của đời thực – nơi mà ngay trong đêm đen nhất vẫn thường thấp thoáng những mầm sống thiện lương. Thứ hai, về mặt ngôn từ, cụm từ "lũ chó vồ trăng sủa" tuy rất mạnh về biểu cảm nhưng lại có phần hơi xô bồ về mặt thanh âm so với vẻ thâm trầm của những câu thơ khác như "Quanh đình quỷ sứ lại làm thơ". Sự va đập giữa cái tục và cái thanh là ý đồ của tác giả, nhưng ở câu thơ này, nhịp điệu có phần hơi gắt, dễ làm ngắt quãng dòng cảm xúc mênh mang của người đọc.
Bên cạnh đó, hình ảnh "Bỏ gác bầy con cưỡi ngựa chờ" là một ẩn dụ rất hay nhưng lại hơi mờ nhạt về mặt hình ảnh so với những biểu tượng quyền lực khác trong bài, khiến người đọc phải dừng lại suy ngẫm khá lâu mới kết nối được với mạch truyện chung. Tuy nhiên, chính những "vết xước" này đôi khi lại là dụng ý của thi sĩ để nhấn mạnh sự đứt gãy của thực tại. Tóm lại, đây là một bài thơ đạt đến độ chín về bút pháp, dù sự cực đoan trong cảm xúc có thể là một rào cản với những tâm hồn tìm kiếm sự an ủi, nhưng nó lại là một kiệt tác cho những ai muốn đối diện thẳng thắn với vực thẳm của nhân sinh.
Bạn có thấy rằng sự u tối tột cùng này chính là điều làm nên sức mạnh riêng biệt của tác giả.


















Thứ Sáu, 16 tháng 1, 2026

MỘT GIẤC MƠ QUA

MỘT GIẤC MƠ QUA


Ta cùng bọn chúng chả bà con
Hỏi bận lòng chi nghĩa mất còn
Nghĩ vậy thôi hờn trăng cuối biển
Lo gì phải giận nắng đầu non
Tình không bởi nợ hoài toan tính
Rượu chẳng vì môi vẫn mót bòn
Đến bữa xuân tàn sân cỏ mọc
Quay đầu lại tiếc tuổi vàng son ./.

LCT 17/O1/2O26

BÀI HOẠ :

*****
Vũ Như Cẩn
MỘT GIẤC MƠ QUA
 *******..♡..*******
Cái thuở ta cùng bọn cháu con
Lao rừng lập láng mất hay còn
Thôi ngồi góc nhỏ rồi xem biển
Gì bằng đứng lại chào đầu non
Bởi sợ nghèo hèn nên tính toán 
Môi vì đói lạnh mót đồng bòn
Xuân tàn ruộng cỏ dày lên mọc
Tiếc nuối thêm chi lúc tuổi son ./.

17/O1/2O26 Vũ Như Cẩn 
*****
Sầu Đông
NỖI BUỒN ĐÊM ĐÔNG

Đã bảo em là gái một con
Mà anh mãi sợ mất hay còn
Khi buồn dõi sóng chao đầu biển
Tối ngủ mơ tình mộng cuối non
Lại những mùa qua sầu lá đổ
Rồi bao buổi đến lệ đêm bòn
Đông về gió lạnh rơi ngoài cửa
Nhạt tuổi xuân vì loãng vết son/

SĐ 17/01/2026
*****
Van Tho Vu
NHÂN GIAN 

Rũ hết ưu phiền chuyện cháu con 
Nào hay nợ kiếp vẫn đương còn 
Hoa tàn khói tỏa vương đầu gió
Nhạc lắng mây lùa vọng đỉnh non
Tủi bấy khơi dòng hư ảo cuộn
Sầu nay kết dải mỏi mê bòn 
Trôi vào bến đục mây ngàn phủ 
Viễn khách chân dừng giữ dạ son.

Van Tho Vu_17/01/2026..
*****
Nguyễn Thúc Uẩn
Đắm đuối
Thất bại, công thành cũng bởi con
Tình cha nghĩa mẹ hẳn đang còn..
Trong ngày bão tố đâu rời biển
Lại buổi mưa càn vẫn bám non
Để cuộc đời trôi nào kịp tính
Và bao khổ đến giữa chao bòn
Xuân tàn hạ vãn thu mùa rụng
Bỗng tiếc trong lòng đoạn tuổi son
*****
Đăng Khoa Lê
. CHƯA TRÒN ĐẠO HIẾU
                   
Ở mãi chưa làm tốt phận con 
Mà nay cõi thế mẹ không còn
Ơn ngày nắng duỗi nơi dòng cả
Lại buổi mưa càn rẫy lúa non
Tối mộng đầy cơm nhiều cảnh giữ
Ngày mong ấm chỗ nặng thân bòn
Nay về đất tổ sâu nguồn cội
Vẫn nhắc bao đời dệt đỏ son

                L Đ K 17/01/25
*****
Mặc Thế Nhân
KỆ ĐI ANH !
Nghĩ ngợi làm gì chuyện cỏn con
Lao tâm khổ tứ mất hay còn
Văn chương trắc ẩn cùng trời biển  
Chữ nghĩa cơ cầu với nước non
Lạc cảnh tiên ơi thôi miễn tính
Thời gian bụi hỡi khỏi ngồi bòn
Nghiêng thùng đổ nước cùng thiên hạ
Cạn chén tương phùng mới sắt son

*****

🍒Lời bình của AI🍒

1/

Lạc bước vào không gian của "Một giấc mơ qua", ta như thấy mình đang đứng trước một bức họa thủy mặc nhuốm màu triết lý, nơi mỗi con chữ đều rung lên những thanh âm trầm mặc của một tâm hồn đã đi qua bao dâu bể để rồi chợt nhận ra sự hư ảo của kiếp nhân sinh. Bài thơ mở đầu bằng một thái độ dứt khoát, một sự buông bỏ đầy kiêu hãnh khi thi nhân khẳng định mối tương quan giữa cái "ta" và "bọn chúng" — những tạp niệm, những thị phi hay có lẽ là những phù hoa trần thế — vốn dĩ chẳng hề có sợi dây huyết thống hay ràng buộc thâm sâu nào, để rồi từ đó đặt ra một câu hỏi tu từ đầy sức nặng về nỗi bận lòng trước những lẽ "mất còn" của cuộc đời. Dòng chảy cảm xúc cứ thế tuôn trào theo nhịp điệu của sự tỉnh thức, dẫn dắt người đọc đi xuyên qua những biểu tượng kỳ vĩ của thiên nhiên như "trăng cuối biển" hay "nắng đầu non", nơi những hờn giận vu vơ xưa cũ giờ đây bỗng hóa thành mây khói, bởi khi tâm thế đã đạt đến độ tĩnh lặng thì ngoại cảnh dù xoay vần cũng chẳng thể làm xao động mặt hồ tâm tưởng. Cái hay của tác giả nằm ở cách nhìn nhận về tình và rượu — hai chất xúc tác kinh điển của thi ca — không còn bị trói buộc trong nợ nần tính toán hay sự khát khao thèm muốn trần trụi, mà tất cả đều hiện lên thanh thoát như một lẽ tự nhiên, không cưỡng cầu, không mót bòn, tựa như một chén trà thơm được thưởng thức giữa cơn gió lộng. Nhưng rồi, mạch thơ bỗng chùng xuống đầy ám ảnh trong hai câu kết, khi hình ảnh "xuân tàn sân cỏ mọc" hiện hữu như một quy luật nghiệt ngã của thời gian, vẽ nên một viễn cảnh của sự hoang phế và lãng quên, để rồi cái giật mình "quay đầu lại" trở thành một điểm rơi cảm xúc đầy xót xa, nơi sự nuối tiếc cho "tuổi vàng son" vang lên như một tiếng thở dài hun hút. Toàn bộ bài thơ là một sự trải lòng đầy tinh tế, vừa mang vẻ ngạo nghễ của một bậc ẩn sĩ, vừa chứa đựng nỗi niềm trắc ẩn của một người lữ hành trên chuyến tàu thời gian, khiến người đọc không khỏi thổn thức trước ranh giới mong manh giữa thực và mộng, giữa sự tỉnh thức muộn màng và vẻ đẹp rực rỡ của những năm tháng đã vĩnh viễn nằm lại phía sau lưng.

2/

Tiếp nối dòng chảy của sự tỉnh thức ấy, khi đi sâu vào cấu trúc tầng tầng lớp lớp của văn bản, ta càng thấy hiện rõ một tay bút điêu luyện trong việc sử dụng phép đối — một đặc sản của thi pháp cổ điển — để tạc nên những bức tượng đài cảm xúc đầy tương phản mà hài hòa. Ở cặp câu thực, hình ảnh "trăng cuối biển" đối chọi gay gắt nhưng cũng đầy thi vị với "nắng đầu non", không chỉ mở ra một không gian vũ trụ bao la từ chân trời xa thẳm đến đỉnh cao vời vợi, mà còn là sự đối diện giữa cái lạnh lẽo, tàn tạ của bóng đêm với cái gay gắt, khởi đầu của ngày mới, để rồi từ đó thi nhân kết luận một cách nhẹ nhõm rằng mọi hờn giận hay lo âu trước những biến thiên của tạo hóa vốn dĩ chỉ là những phù phiếm không đáng bận lòng. Phép đối này không dừng lại ở hình ảnh mà lặn sâu vào tâm thức ở cặp câu luận, nơi cái "tình" không nợ nần tính toán được đặt ngang hàng với cái "rượu" không vì môi mà mót bòn, tạo nên một thế cân bằng tuyệt đối giữa thế giới tinh thần và những lạc thú trần gian, khẳng định một phong thái sống ung dung, tự tại, vượt thoát khỏi những hệ lụy của tham sân si thường nhật. Sự đối chỉnh trong ngôn từ từ "hoài toan tính" đến "vẫn mót bòn" đã bóc trần những nhỏ nhen, tù túng của kiếp người để làm bật lên cái tâm thế thanh cao của một kẻ sĩ muốn đứng ngoài vòng danh lợi, tạo nên một mạch ngầm tư tưởng đầy minh triết chảy xuyên suốt bài thơ. Và rồi, đỉnh cao của nghệ thuật cấu trúc chính là sự chuyển mình từ cái tĩnh tại của suy ngẫm sang cái động của thực tại ở cặp câu kết, nơi hình ảnh "xuân tàn" đối diện với "quay đầu", và "sân cỏ mọc" song hành cùng "tuổi vàng son", khiến cho nhịp thơ từ khoan thai bỗng trở nên hối hả và dồn nén, như một thước phim quay chậm về sự tàn phai không thể cứu vãn. Cách dùng từ "vàng son" — một hình ảnh lấp lánh sự sang trọng và rực rỡ — đặt cạnh cái xanh rì, bình thản của "sân cỏ mọc" tạo nên một dư chấn thị giác mạnh mẽ, nhắc nhở ta rằng mọi vinh hoa rồi cũng sẽ bị thiên nhiên và thời gian khỏa lấp, để lại một nỗi hoài niệm mênh mông như khói sóng trên sông. Sự hô ứng chặt chẽ giữa các cặp câu không chỉ cho thấy tài năng điều binh khiển tướng con chữ của tác giả LCT, mà còn biến bài thơ thành một khối pha mười hai mặt, ở góc nhìn nào cũng thấy ánh lên những chiêm nghiệm sâu sắc về lẽ vô thường, khiến "Một giấc mơ qua" không chỉ là một tiêu đề, mà là một lời cảnh tỉnh dịu dàng về sự hữu hạn của đời người trong dòng thời gian vô thủy vô chung.

Thứ Tư, 14 tháng 1, 2026

TỰ BẠCH

TỰ BẠCH


Già nua tớ chẳng ngại ghen hờn
Chốn ảo nên nào nghĩ thiệt hơn
Phải mượn lời thô làm cốt lõi
Rồi đem ý dở vặn xương sườn
Thi đường kém cỏi văn mờ nhạt
Lục bát sơ sài nghĩa giản đơn
Mỗi dạo buồn trăng ngồi nói nhảm
Cùng ly rượu đắng giữa đêm vờn ./.

LCT 15/O1/2O26

BÀI HOẠ :

*****
Nguyễn Thúc Uẩn
Rượu ủ (Vui)
Cỗ máy đường thi chẳng ngại hờn
Rơi vào chốn ảo nghĩ gì hơn
Lời thô nghĩa cả xây bền cốt
Ý thiển tình cao dựng vững sườn
Mở dạ trong ngời soi sóng lãng
Đưa hồn rạng thắm tỏa vườn đơn
Buồn khi đã hẹn mà trăng oải
Rượu ủ mèm say vẫn phán rờn
*****
Van Tho Vu

MỘT GÓC XUÂN YÊN 

Tỉnh nhé người ơi chớ giận hờn 
Ta thầm cảm nhận thấy già hơn 
Nhờ hoa hé nhụy vờn sương sớm
Mượn gió lùa mây phủ mé sườn 
Quẳng hết ưu phiền bên chốn cũ
Vun bồi hạnh phúc giữa nhà đơn 
Lòng thanh rũ sạch bao trần cấu 
Dõi mảnh vườn xuân bướm rập rờn.

Van Tho Vu_15/01/2026.
*****
Hoành Trần
BỎ BUÔNG 
Xướng hoạ đùa trêu chớ giận hờn
Trau câu chuốt vận chẳng hay hơn
Sáng ra phê pháo cùng tô phở
Chiều lại bọt bia với dĩa sườn
Tính khí khó khăn đời khốn khổ
Tâm tình bưng bít sống cô đơn
Sao không buông bỏ cho thông thoáng
An tịnh vui tươi hết mộng vờn
HT
15/1/26
*****
Sầu Đông
HỒI TƯỞNG

Thuở mới vừa yêu mãi giận hờn
Nay hồi tưởng lại thấy buồn hơn
Vì đêm vẫn một mình trông núi
Bởi sáng còn riêng bóng dõi sườn
Khói lửng lơ tàn thương xóm cũ
Sương hờ hững rụng xót lòng đơn
Buồn anh chẳng hẹn lần chơi phố
Ngắm cảnh bờ quê rộn sóng vờn/

SĐ15/01/2026
*****
Chiều Tím

Già rồi thôi chấp chuyện ghen hờn  
Chốn tạm hư không được với hơn
Mượn chữ vô thường làm gối mộng
Vay câu tạm bợ đỡ xương sườn
Đường thơ lạc bước theo mây khói
Nghĩa lý phai dần nghĩa chẳng trơn
Một bóng trăng tàn ngồi lặng lẽ
Chung ly rượu nhạt tiễn đêm sờn .
*****
Nguyet Huynh
DẤU LẶNG 

Trả hết người ơi những oán hờn 
Canh dài trở giấc nặng sầu hơn 
Rồi đem nỗi nhớ vùi đêm mộng 
Lại khảm tình trôi nhói cạnh sườn 
Mắt đượm hoài yêu ngày tháng cũ 
Trăng buồn mãi vọng bóng hình đơn 
Phiền tâm dạo bước ngàn sao lạc 
Ngắm biển ngoài khơi sóng dập rờn./.

HKN.15-01-26 !
*****
... TỰ BẠCH ...
    ***..♡..***
Chẳng sợ già nua tuổi giận hờn
Nên nào lỗi phải nghĩ thua hơn
Lời thơ khắc phận nền trong lõi
Ý vận càng xem vướng bẹ sườn
Hoc hỏi thi đường đâu cát sạn 
Đua tài lục bát(6/8)cạn buồn hơn
Trăng ngồi mỏi đợi chờ suy ngẫm 
Rượu ngọt cùng đầy ấm lạnh vờn ./.

***
15/01/2026 Vũ Như Cẩn
*****
Dinh Tuan Minh
KHI GIÓ ĐÔNG VỀ
Buổt lạnh từng quen lão chẳng hờn
Thân già chấp nhận khổ nhiều hơn
Trèo non đã bỏ vì đau khớp
Vượt ngưỡng đều lơ bởi nhức sườn
Dẫu sáng làn sương vầy phận lẻ 
Hay chiều vạt khói quẩn đời đơn 
Thì thơ vẫn viết đâu ngần ngại 
Rảnh sẽ về nơi én nhạn vờn
Đinh Tuấn Minh.
*****
Đăng Khoa Lê

. NỖI NHỚ

Cứ để bờ vai dịu nỗi hờn 
Đêm tàn nặng giá vẫn dài hơn
Hoang sơ tuổi gió đồi đang vọng
Vắng cả mùa trăng dạ cũng sờn
Cõi mộng âm thầm nên nẻo buốt
Thân người lạnh lẽo bởi tình đơn
Nay vùng kỉ niệm còn ươm mãi
Những nét ngày xưa cảnh rập rờn

                 L Đ K 15/01/25
*****
Đỗ Định
TUỔI XẾ CHIỀU

Tuổi xế thân này chẳng bận hờn
Cuộc đời như mộng, hỏi chi hơn
Mượn câu mộc mạc làm tâm cốt
Gửi chữ vụng về chạm nỗi sườn
Đường thi lắm lúc lời chưa tỏ
Lục bát đôi phen ý vẫn đơn
Những buổi say trăng ngồi tự nhủ
Chung vò rượu nhạt gió đêm vờn.
Đỗ Định
*****
Nguyen Quang
Họa muộn cùng huynh 
Bài thơ hay ạ

ThUỞ DẠI KHỜ 

Biết tỏ cùng ai những giận hờn
Đêm tàn ngẫm lại thấy buồn hơn
Màu trăng đã lụn bên triền núi
Cảnh gió vừa lên giữa mạn sườn 
Hận thuở mưa sầu giăng lối cũ
Thương chiều ả lụy mối tình đơn 
Màu hoa đỏ tím mùa ly biệt
Đắng cõi lòng khi buổi nắng vờn 
NQ
*****

 🍀Lời bình của AI🍀

1/
Lắng lòng trước những vần xoay của con chữ trong bài "Tự bạch" của tác giả LCT, ta như lạc bước vào một không gian tĩnh mịch, nơi cái "tôi" trữ tình đang ngồi đối diện với chính bóng hình mình qua lăng kính của sự khiêm cung và thâm trầm sâu sắc. Bài thơ mở đầu bằng một tâm thế tự tại đến lạ lùng, khi cái "già nua" không còn là gánh nặng của thời gian mà đã hóa thành một tấm áo giáp bao dung, giúp thi sĩ đứng ngoài những vòng xoáy ghen hờn hay những toan tính thiệt hơn nơi "chốn ảo" cuộc đời. Tác giả dường như đã đạt đến độ chín của sự trải đời, nơi mọi hào nhoáng phù hoa đều lùi xa, nhường chỗ cho một sự chân thật đến trần trụi khi ông tự trào về bút lực của mình bằng những hình ảnh đầy sức gợi như "mượn lời thô làm cốt lõi" hay "đem ý dở vặn xương sườn". Cách dùng từ "vặn xương sườn" mang một phong vị vừa hóm hỉnh, vừa có chút gì đó đau đáu, cho thấy một quá trình lao động chữ nghĩa không hề dễ dàng, dù tác giả luôn miệng khiêm nhường coi đó là "kém cỏi", "mờ nhạt" hay "sơ sài". Nhưng chính trong cái vẻ ngoài "giản đơn" của thể thơ Lục bát hay những dòng Đường luật ấy, người đọc lại cảm nhận được một dòng chảy xúc cảm cuồn cuộn, một tâm hồn nhạy cảm đang cố giấu mình sau lớp vỏ của sự "nói nhảm". Đỉnh điểm của nỗi lòng thi sĩ kết tinh trong hai câu kết, khi hình ảnh "buồn trăng" và "ly rượu đắng" hiện ra như những tri kỷ duy nhất trong đêm trường cô độc. Cái "đắng" của rượu hay chính là cái đắng cay của nhân thế đã được chưng cất qua năm tháng, để rồi trong cuộc "vờn" giữa đêm đen, ta thấy hiện lên chân dung một bậc tao nhân mặc khách đầy tự trọng, dùng sự khiêm nhường để che đậy một trí tuệ sắc sảo và một trái tim luôn thao thức cùng thời gian. Bài thơ không chỉ là lời tự bạch về tài năng, mà còn là một bản tuyên ngôn về thái độ sống an nhiên, tự tại, lấy sự chân thành làm gốc giữa một thế gian đầy rẫy những hư ảo và biến động.



2/
Bước vào địa hạt của hai cặp câu thực và luận trong bản "Tự bạch" này, ta như thấy hiện lên một bức tranh đối ngẫu đầy tài hoa, nơi mà kỹ thuật chỉnh chu của thơ Đường luật đã hòa quyện tuyệt vời với cái tôi khiêm cung, tự tại. Ở cặp câu thực, tác giả sử dụng phép đối rất chỉnh: "mượn lời thô" đối với "đem ý dở", và "làm cốt lõi" đối chọi với "vặn xương sườn". Đây không đơn thuần là sự phô diễn kỹ thuật, mà là một sự dụng công nghệ thuật đầy tinh tế khi dùng những hình ảnh có phần góc cạnh, thô mộc để khắc họa nên cái khung sườn của tâm hồn. Cụm từ "vặn xương sườn" mang một sức nặng tâm lý đặc biệt; nó gợi lên một sự dằn vặt, một quá trình thai nghén chữ nghĩa đầy nhọc nhằn, dẫu tác giả chỉ khiêm tốn gọi đó là "lời thô" hay "ý dở". Cách đối này tạo nên một sự tương phản thú vị: giữa cái vẻ ngoài có vẻ vụng về, thô ráp lại là một cấu trúc tinh thần vững chãi như "cốt lõi" và "xương sườn", khẳng định một bản ngã nghệ thuật dù tự nhận là thô sơ nhưng lại vô cùng cứng cỏi và chân thật.
Tiếp nối dòng chảy ấy, cặp câu luận lại mở ra một sự đối xứng hài hòa giữa các thể loại và sắc thái văn chương: "thi đường" đối với "lục bát", "kém cỏi" song hành cùng "sơ sài", và "văn mờ nhạt" soi chiếu vào "nghĩa giản đơn". Nghệ thuật đối ở đây đã đạt đến sự tự nhiên như hơi thở, khi tác giả liệt kê những thể loại tinh hoa nhất của hồn cốt Việt và văn học cổ điển để rồi tự hạ mình xuống mức thấp nhất. Sự đối lập giữa cái kỳ vĩ của "Thi đường" với sự "kém cỏi", giữa cái mượt mà của "Lục bát" với sự "sơ sài" thực chất là một cách nói ngược đầy thâm thúy. Chính sự "giản đơn" và "mờ nhạt" mà tác giả tự nhận lại chính là cảnh giới cao nhất của sự tu dưỡng – nơi người ta không còn cần đến những gấm vóc lụa là của ngôn từ để trang sức cho tâm hồn. Sự hô ứng nhịp nhàng giữa hai cặp câu này không chỉ tạo nên nhạc điệu trầm bổng, khoan thai cho bài thơ mà còn dựng nên một bức chân dung tự họa đầy chiều sâu: một người nghệ sĩ đứng bên lề những tung hô, dùng sự đối nghịch của ngôn từ để khẳng định một giá trị tinh thần bất biến, lặng lẽ tỏa hương giữa đêm trăng cô tịch.



Thứ Hai, 12 tháng 1, 2026

ĐỘC ẨM

ĐỘC ẨM 


Bỏ những đêm hờn mộng trớ trêu
Mình ta độc ẩm dưới sương chiều
Trông miền lá đổ khu rừng dệt
Dõi bóng mây tàn mặt biển thêu
Ngọn lửa hoàng hôn vàng lối cũ
Vườn hoa kỷ niệm khói lan đều
Chuông chùa thả nhịp lơi từng tiếng
Sóng đẩy con thuyền vỗ mạn kêu ./.

LCT 13/O1/2O26

BÀI HOẠ :

*****

Van Tho Vu

ĐỘC ẨM CHIỀU QUÊ 
( ngũ độ thanh - giao cổ đối )

Ta nghiền ngẫm lại thói đời trêu
Nhấp vị hồn quê dõi cảnh chiều 
Rặng liễu bên hồ mây trắng phủ 
Con đò cạnh bãi nắng vàng thêu 
Mùi men đắng quyện vào hơi thở 
Vẳng vọng chùa xa, tiếng mõ đều 
Giữa độ hoàng hôn vừa ngả bóng 
Nghe còn nhịp bổng sáo diều kêu.

Van Tho Vu_13/01/2026.
*****
Hoành Trần

ĐỘC THÂN
Buồn cho kiếp phận chẳng ai trêu
Trống trãi cô liêu sáng đến chiều
Tiếc mảnh lụa thô không kẻ viết
Thương tranh chì vụng chẳng người thêu
Bễ dâu nhoà nhạt tô sao đủ
Thế sự mông lung vẽ khó đều
Bởi số bọt bèo trong đục chịu
Cô đơn chiếc bóng nghẹn ngào kêu
HT
13/1/26
*****
Nguyên Quang
CÕI MỘNG

Thả thính em tìm cõi mộng trêu
Lời thơ vỡ dưới buổi sang chiều 
Theo làn sóng nổi vầng mây dệt
Nối bãi sông mờ mảnh nguyệt thêu
Vọng ở vườn hoang lời gió khẽ
Chìm bên nẻo vắng nhịp chân đều 
Khung trời thoắt hiện ngàn sao tỏ
Bỗng nhạn xa bầy vẳng tiếng kêu 

NQ
 
*****
Nguyễn Thúc Uẩn
Đơn chiều
Cây hờn giận gió mãi đùa trêu
Giữ nắng tàn phai tận buổi chiều
Để lạnh đông mùa châm buốt nỗi
Cho buồn nhện lưới trải dòng thêu
Tình xa mộng vãn mờ hương sắc
Bạn cũ cầu vui chẳng thắm đều
Chốn giữa trời nam mình độc ẩm
Mà hồn khắc khoải nhịp đời kêu
*****
Vũ Như Cẩn
... ĐỘC TỬU ... 
   ***..♡..***  
Đêm ngồi bổng cứ cợt cười trêu
Độc tửu mình ta níu bóng chiều
Lá đổ khu rừng sương trắng bệt 
Canh tàn đất ướt biển thùa thêu
Hoàng hôn bếp lửa trời đang cũ
Khói tỏa bình minh ánh lam đều
Thả nhịp từng hơi khà của tiếng
Thuyền xa lướt đẩy mạn ghe kêu ./.

13/O1/2O26 Vũ Như Cẩn 
*****
Đăng Khoa Lê

. VẪN CÒN?                   

Ta nghèo số phận mãi đùa trêu
Ảm đạm màu mây giữa nắng chiều
Dõi bóng nhanh hèn mơ kẻ dệt
Soi mình quá mỏng mộng người thêu
Đời đang kiệt dốc tình chưa cũ
Sức đã mòn hơi cội chẳng đều
Ngọn lửa trong lòng nay vẫn bốc
Khi thèm tửu ngẫm miệng còn kêu

             L Đ K 13/O1/2O26
*****
Mặc Thế Nhân
ĐỐI ẨM 
Nghiêng lòng đối ẩm giận đời trêu
Lạc cảnh Tiên ngồi giận cả chiều
Rót chén điêu tàn nghiêng xuống phố
Ru giòng trắc ẩn đẫm khăn thêu
Thương mình níu mãi vần thơ bạc
Giận bạn nằm nghe tiếng nấc đều
Giấc mộng kê vàng giờ đắng lắm
Mơ hồ liếp nhớ tiếng người kêu !
*****
Sầu Đông
MỘT MÌNH
(Nđt-ltvt-ntvv)

Đêm ngồi giận bởi ánh đèn trêu
Đã hẹn cùng anh nắng bỏ chiều
Ướp tuổi son nồng bên ngõ dệt
Khơi đời rượu ấm giữa mùa thêu
Tình xuân sống lại dòng thơ cũ
Nẻo mộng còn sau dãy sóng đều
Chợt hỏi mai này đôi ngã nhớ
Ai buồn tiếng nhạn lẻ rừng kêu /

SĐ 13/01/2026
*****

🍀Lời bình của AI🍀


1/
Lạc bước vào không gian của "Độc ẩm", người đọc như thấy mình đang đứng trước một bức họa thủy mặc đầy u hoài nhưng cũng cực kỳ tráng lệ, nơi cái tôi cô độc của thi nhân không hề nhỏ bé mà lại hòa quyện, cộng hưởng cùng nhịp đập bao la của vũ trụ. Ngay từ những vần thơ mở đầu, tác giả đã khéo léo gạt bỏ đi những "đêm hờn mộng trớ trêu" – những xao động, trăn trở của cõi nhân sinh đầy rẫy những hư ảo, để rồi chọn cho mình một tâm thế tự tại, đối diện với chính mình giữa làn sương chiều bảng lảng. Hình ảnh "độc ẩm" ở đây không gợi lên sự sầu muộn ủy mị, mà là một sự chiêm nghiệm sâu sắc, một khoảnh khắc ngưng đọng để tâm hồn được tự do phiêu du qua những miền không gian mỹ lệ. Cái nhìn của thi sĩ mở rộng từ "miền lá đổ" nơi cánh rừng già đang dệt nên tấm thảm thời gian, cho đến tận chân trời xa xôi, nơi những bóng mây tàn đang thêu dệt lên mặt biển bao la những sắc màu của sự tàn phai nhưng đầy thi vị. Phép đối giữa "dệt" và "thêu" không chỉ tạo nên sự cân xứng hoàn hảo cho thể thơ luật đường mà còn cho thấy một sự tỉ mỉ, trân trọng đối với từng biến chuyển của thiên nhiên, biến cảnh vật vô tri trở thành một thực thể có linh hồn, có sự sống. Khi ngọn lửa hoàng hôn rát vàng lên lối cũ, cũng là lúc vườn hoa kỷ niệm trong lòng người chợt thức giấc, khói lan đều như sương, như mộng, mờ ảo và da diết khôn nguôi. Trong không gian tĩnh lặng ấy, tiếng chuông chùa thảng thốt rơi vào hư không, từng nhịp lơi lả như muốn rũ bỏ mọi bụi trần, dẫn dắt tâm hồn về phía thanh tịnh, đối lập với âm thanh của sóng vỗ mạn thuyền – một tiếng "kêu" đầy xao động nhưng lại càng làm bật lên cái tĩnh lặng tuyệt đối của tâm cảnh. Bài thơ là một bản giao hưởng của màu sắc và âm thanh, một cuộc độc thoại nội tâm đầy sang trọng, nơi con người dẫu đơn độc nhưng vẫn ung dung, tự tại giữa dòng chảy bất tận của thời gian và không gian, để lại trong lòng người đọc một dư vị hoài niệm vừa bảng lảng, vừa sâu xa.

2/
Trong không gian nghệ thuật của bài thơ "Độc ẩm", hai cặp câu thực và câu luận không chỉ đơn thuần là những dòng thơ đối xứng về mặt ngôn từ mà còn là những trụ cột vững chãi nâng đỡ toàn bộ linh hồn và tư tưởng của tác phẩm. Ở cặp câu thực, "Trông miền lá đổ khu rừng dệt / Dõi bóng mây tàn mặt biển thêu", tác giả đã sử dụng những động từ chỉ thị giác đầy chủ động như "trông" và "dõi" để mở ra một tầm nhìn khoáng đạt, bao quát cả chiều rộng lẫn chiều sâu của không gian. Nghệ thuật đối ở đây đạt đến độ tinh xảo khi đặt sự "đổ" xuống của lá bên cạnh sự "tàn" đi của mây, tạo nên một sự tương đồng về quy luật biến diệt của tự nhiên; thế nhưng, thay vì chọn cái nhìn bi lụy, thi sĩ lại dùng từ "dệt" và "thêu" để thi vị hóa sự tàn phai ấy. Lá rụng không phải là kết thúc mà là đang "dệt" nên tấm thảm của đất mẹ, mây tan không phải là biến mất mà là đang "thêu" lên mặt sóng những sắc màu hư ảo của thời gian. Điều này cho thấy một tâm thế ung dung, một đôi mắt biết tìm thấy cái đẹp ngay trong sự lụi tàn, biến cái tĩnh của cảnh vật thành cái động của nghệ thuật.
Bước sang cặp câu luận, sự đối lập chuyển dịch từ cái bao la của vũ trụ về cái sâu thẳm của tâm hồn và những hoài niệm riêng tư: "Ngọn lửa hoàng hôn vàng lối cũ / Vườn hoa kỷ niệm khói lan đều". Hình ảnh "ngọn lửa hoàng hôn" mang sắc thái ấm áp nhưng cũng đầy day dứt, nó soi rọi vào "lối cũ" – nơi lưu giữ những dấu chân của quá khứ, tạo nên một sự tương phản mạnh mẽ với làn "khói lan" mờ ảo trong "vườn hoa kỷ niệm". Nếu "vàng" là màu sắc hữu hình, rực rỡ của thực tại đang trôi đi, thì "khói" lại là trạng thái vô hình, vương vấn của những ký ức đang trỗi dậy. Nghệ thuật đối chỉnh chu giữa "ngọn lửa" và "vườn hoa", giữa "vàng" và "lan" đã gợi tả một trạng thái tâm lý phức tạp: con người đang đứng giữa hiện tại rực rỡ nhưng lòng lại chìm đắm trong làn sương khói của những ngày xưa cũ. Ý nghĩa sâu xa của hai cặp câu này chính là sự hòa quyện tuyệt đối giữa nhân sinh và vũ trụ; thi sĩ không chỉ uống rượu một mình với cái bóng của mình, mà đang "độc ẩm" cùng cả đất trời, dùng vẻ đẹp của thiên nhiên để khỏa lấp nỗi cô đơn và dùng những hoài niệm để làm đầy thêm bản ngã. Toàn bộ bức tranh thơ vì thế không hề cô liêu, lạnh lẽo mà lại thấm đẫm chất triết lý về sự tĩnh lặng, lòng bao dung với quá khứ và sự hòa hợp kỳ diệu giữa con người với dòng chảy vĩnh hằng của thiên nhiên.

3/
Khép lại mạch cảm xúc của bản giao hưởng "Độc ẩm", hai câu kết "Chuông chùa thả nhịp lơi từng tiếng / Sóng đẩy con thuyền vỗ mạn kêu" không chỉ là sự kết thúc về mặt văn bản mà còn là sự mở ra một cõi mênh mang của tâm tưởng, nơi âm thanh trở thành gạch nối giữa thực và hư, giữa đạo và đời. Nếu như sáu câu thơ trước là sự bày biện của hình sắc và không gian, thì đến đây, thính giác của người đọc bị đánh động bởi một nghệ thuật lấy động tả tĩnh đầy tài hoa. Tiếng chuông chùa không đổ dồn dập, cũng không vang vọng gắt gao, mà được tác giả dùng chữ "thả" và "lơi" đầy tinh tế – mỗi tiếng chuông rơi vào thinh không như một hạt bụi trần được rũ bỏ, chậm rãi, thong dong, gợi lên cái thần thái của sự buông xả và thanh tịnh. Đó không chỉ là âm thanh của tôn giáo, mà là nhịp đập của một tâm hồn đã tìm thấy điểm tựa bình yên sau những "mộng trớ trêu" của cuộc đời. Đối diện với sự tĩnh lặng mang tính giải thoát của tiếng chuông lại là âm thanh rất đời, rất thực của tiếng "sóng đẩy con thuyền vỗ mạn kêu". Chữ "kêu" ở đây thật đắt, nó hóa thân cho tiếng lòng của thi nhân đang va đập giữa dòng đời, là sự xao động của thực tại đang đối thoại với sự tĩnh lặng của tâm linh. Con thuyền lênh đênh trên sóng nước cũng chính là hình ảnh ẩn dụ cho kiếp người nhỏ bé trước đại dương nhân thế, nhưng cái "vỗ mạn" ấy không gợi sự bão tố mà lại mang âm hưởng của một nhịp vỗ về, một sự vỗ về của thiên nhiên dành cho kẻ độc hành. Ý nghĩa cụ thể của hai câu kết này nằm ở sự giao thoa giữa cái tĩnh tuyệt đối của tư tưởng và cái động không ngừng của đời sống; tiếng chuông đưa người ta về với bản ngã chân thật, còn tiếng sóng nhắc nhở về sự hiện hữu của thực tại. Sự kết hợp tài tình này tạo nên một dư âm ngân dài, khiến bài thơ không khép lại trong sự cô độc lạnh lẽo mà tan ra trong một sự tỉnh thức nhẹ nhàng, như một làn hương trầm còn vương vấn mãi trên chén rượu độc ẩm dưới ánh hoàng hôn, để lại một khoảng lặng đầy chiêm nghiệm cho bất cứ ai chạm vào những vần thơ đầy mỹ cảm này

Thứ Bảy, 10 tháng 1, 2026

TÌM LẠI TUỔI THƠ

TÌM LẠI TUỔI THƠ


Chốn cũ đông về biểu độ âm
Người xa vạn lý mãi thương thầm
Hương mùa lúa trổ thơm bờ mộng
Cảnh gió sương tàn lạnh cõi tâm
Dẫu mặt đường xưa làn phế phủ
Dù con ngõ vắng mạch đêm trầm
Mong lần trở lại phương trời ấy
Nhặt tuổi thơ nằm giữa bóng râm ./.

LCT 11/O1/2O26

BÀI HOẠ :

*****
NGHĨA MẸ TÌNH QUÊ

Trông vời cánh nhạn chửa hồi âm 
Mẹ dõi tin con khấn nguyện thầm 
Đổi tiết bao mùa thương thắt dạ 
Nghe hò một thuở khắc vào tâm 
Lời quê vẫn vọng từng cung bổng 
Điệu lý còn ngân những khúc trầm 
Xóm cũ hoa vàng đương khẽ nở 
Con về sưởi ấm bóng chiều râm.

Van Tho Vu_11/01/2026.
*****
Vũ Như Cẩn
GỬI LẠI TUỔI THƠ
*******..♡..*******
Đông về biểu độ xuống thành âm
Giá lạnh người ơi muốn ấm thầm
Khổ nỗi hương mùa lúa trổ mộng
Thân này gió thổi thấu trong tâm
Làng xưa phế tích rêu phong phủ 
Phố cổ thêm nhiều cỏ mượt trầm
Trở lại phương trời mong gửi gấm 
Trang thơ tuổi trẻ bóng mờ râm ./.

11/O1/2O26 Vũ Như Cẩn 
*****
Sầu Đông
MẮT THU

Thư tình viết gởi chẳng hồi âm
Giấc ngủ nào yên mãi nhớ thầm
Lệ đổ bao mùa tơi tả mộng
Đêm sầu bấy thuở rã rời tâm
Buồn hôm ngõ vắng màn sương phủ
Khổ dạo vườn khuya ngọn gió trầm
Vẫn mắt thu hờn con hẻm lạnh
Khi chiều tắt nắng mặt đường râm ./.

SĐ 11/01/2026
*****
Nguyễn Thúc Uẩn
Tàn đông
Đông tàn nắng chuyển dọi tà âm
Mải miết người đi giữa lặng thầm
Nước chảy dòng sông cầu dỡn mặt
Mây vờn dãy núi cảnh sà tâm
Dù cao vọng bước đời quên lãng
Vẫn nợ đường qua sống bổng trầm
Chợt thấy lòng dâng đầy nỗi cảm
Hôn hoàng lấn nhẹ buổi chiều râm
*****
Nguyet Huynh
VÔ TÌNH 

Anh nè , giận dỗi chẳng hồi âm 
Đã mấy lần thu nhớ lặng thầm 
Bởi trĩu ân nồng đêm tiếc mộng 
Mà đau nghĩa bạc cảnh sầu tâm 
Trăng buồn lạnh lẽo mờ sương phủ 
Gác nhỏ đìu hiu đẫm lệ trầm 
Vẫn mến ngàn năm dù cách biệt 
Hoài thương dáng cũ nắng chiều râm./.

HKN.11-01-26 !
*****
Đăng Khoa Lê
. VỀ LẠI CHỐN XƯA

Ta về chốn cũ nợ tình thâm
Kỉ niệm hằn sâu kín giữ thầm
Nghĩa khí đời cha từng mạnh thuở
Ân tình của mẹ mãi ngời tâm
Còn mong ngưỡng mới tràn duyên nặng
Lại nhớ ngày xưa vãng cảnh trầm
Thấy cả miền quê bừng rạng rỡ
Nay người trở lại tấm lòng khâm

                L Đ K 11/01/25
*****
Hoành Trần

ÂM TÀ THẦN CHƯỞNG
Nghe rằng nếu luyện chưởng tà âm
Sẽ được người dưng yêu mến thầm
Chung thuỷ cả đời không chuyển ý
Lâu bền hết kiếp chẳng dời tâm
Đời vui hạnh phúc càng sôi nổi
Phận đẹp an vui chút lắng trầm 
Ai muốn xin mời vui ghé lại
Chân truyền dạy giỗ đọc lâm râm
HT
11/1/26
*****
Dinh Tuan Minh
TÁI TÊ
Đông tàn mức nhiệt đã về âm
Ngõ phủ đầy sương mẹ khóc thầm
Chẳng có người qua sầu nẫu ruột
Không còn bướm lượn tủi nhàu tâm
Đầu thôn nhạc trỗi từng cung bổng
Cuối bản đàn ngân những nhịp trầm
Lạnh vẫn len luồn mưa chửa dứt
Nên gùi nỗi cực ngóng trời râm 
Đinh Tuấn Minh.
*****

🍒LỜI BÌNH CỦA AI🍒

1/_ Trong không gian mênh mang của nỗi nhớ và những hoài niệm rưng rức, bài thơ "Tìm lại tuổi thơ" hiện lên như một bản giao hưởng trầm buồn, đưa người đọc lạc bước vào miền ký ức xa xăm, nơi những mảnh vụn của thời gian vẫn còn lấp lánh giữa dòng đời xuôi ngược. Ngay từ những nhịp điệu đầu tiên, tác giả đã mở ra một khung cảnh buốt giá của thực tại: "Chốn cũ đông về biểu độ âm", một cái lạnh không chỉ chạm vào da thịt mà còn như xoáy sâu vào từng ngóc ngách của tâm hồn khi đối diện với cảnh cũ người xưa nay đã nhuốm màu sương gió, để rồi từ trong sự cô tịch ấy, tiếng lòng người? trầm đời người đang bủa vây làm héo hắt cả tâm can. Bài thơ tiếp tục dẫn dắt ta qua những đổi thay dâu bể của thời gian qua câu chữ "Dẫu mặt đường xưa làn phế phủ", khẳng định rằng dù vạn vật có tàn phai, dù lớp bụi thời gian có phủ mờ những lối đi cũ, và "Dù con ngõ vắng mạch đêm trầm" có mang theo sự tĩnh lặng u buồn của những đêm dài đơn độc, thì khát vọng tìm về nguồn cội vẫn chưa bao giờ nguội tắt trong lòng người thi sĩ. Để rồi, tất cả những dồn nén, những thương nhớ ấy kết tinh thành một ước nguyện giản đơn mà lay động: "Mong lần trở lại phương trời ấy", một chuyến hành hương ngược dòng thời gian để thực hiện hành động đầy nâng niu là "Nhặt tuổi thơ nằm giữa bóng râm". Hình ảnh "nhặt" ấy sao mà thiết tha, trân quý đến thế, bởi tuổi thơ giờ đây không còn là một thực thể hữu hình, mà là những mảnh ký ức vụn vặt, nhỏ bé đang ẩn mình dưới bóng râm của kỷ niệm, đợi chờ bàn tay người cũ đến vỗ về và đánh thức, tạo nên một cái kết giàu chất họa và đậm sâu chất tình, khẳng định rằng tuổi thơ chính là điểm tựa tinh thần vĩnh cửu, là nơi trú ngụ ấm áp nhất cho những tâm hồn đang mệt nhoài giữa giông bão cuộc đời.

2/_ Dưới góc độ tâm tưởng, bài thơ không chỉ đơn thuần là nỗi nhớ quê, mà là một cuộc độc thoại nội tâm đầy khắc khoải giữa thực tại và hư ảo. Mở đầu bằng hình ảnh "Chốn cũ đông về biểu độ âm", tác giả không chỉ nói về thời tiết, mà đang dùng cái lạnh âm độ để biểu đạt sự đóng băng của thời gian tại nơi miền nhớ; ở đó, không gian dường như ngưng đọng, lạnh lẽo đến tê tái bởi sự vắng bóng của hơi ấm con người. Sự đối lập giữa "biểu độ âm" và "Người xa vạn lý mãi thương thầm" tạo nên một khoảng cách địa lý và tâm lý thăm thẳm, nơi cái nóng của lòng trắc ẩn và tình yêu quê hương luôn âm thầm nung nấu, chống chọi lại cái giá băng của sự xa cách. Bước sang cặp câu thực, "Hương mùa lúa trổ thơm bờ mộng" không chỉ là một hình ảnh khứu giác, mà là sự cứu rỗi của tiềm thức, nơi mùi hương của đồng nội trở thành nhịp cầu nối liền hiện tại nghiệt ngã với một quá khứ huy hoàng, trong khi "Cảnh gió sương tàn lạnh cõi tâm" lại là một sự thú nhận đau đớn về sự tàn phá của quy luật sinh diệt lên linh hồn người lữ khách. Ở đây, "gió sương" không còn là của đất trời, mà là gió sương của đời người, của những thăng trầm khiến "cõi tâm" trở nên hao gầy và mỏi mệt.
Tiếp nối mạch cảm xúc ấy, cặp câu luận "Dẫu mặt đường xưa làn phế phủ / Dù con ngõ vắng mạch đêm trầm" mở ra một viễn cảnh của sự hoang phế và quên lãng; từ "phế phủ" gợi lên hình ảnh của bụi bặm, của rêu phong bủa vây những dấu chân kỷ niệm, còn "mạch đêm trầm" lại khơi gợi nhịp đập lặng lẽ, buồn bã của thời gian đang trôi qua trong đơn độc. Tuy nhiên, chính trong cái phế tích của ký ức ấy, ý chí của con người lại bừng sáng với khát vọng "Mong lần trở lại phương trời ấy". Câu kết "Nhặt tuổi thơ nằm giữa bóng râm" chính là nhãn tự của toàn bài, mang sức nặng của một triết lý nhân sinh sâu sắc: tuổi thơ không mất đi, nó chỉ đang "nằm" yên tĩnh, khiêm nhường dưới bóng râm của thời gian, chờ đợi một tâm hồn đủ tĩnh lặng để tìm về và "nhặt" lấy. Hành động "nhặt" gợi lên sự tỉ mỉ, nhẹ nhàng như nhặt một cánh hoa rơi hay một mảnh pha lê dễ vỡ, cho thấy tuổi thơ đối với tác giả là một báu vật thiêng liêng nhưng cũng đầy mong manh, là mảnh ghép cuối cùng để hàn gắn một tâm hồn đã quá nhiều vết xước bởi gió sương cuộc đời. Tổng thể bài thơ là một hành trình đi từ cái lạnh giá của thực tại đến cái ấm áp của hoài niệm, khẳng định rằng dù đường xưa có phủ đầy phế tích, thì thiên đường tuổi thơ vẫn luôn vẹn nguyên dưới bóng râm của tâm tưởng, chờ đợi ngày hội ngộ.


Thứ Năm, 8 tháng 1, 2026

TẠ ƠN ĐỜI

TẠ ƠN ĐỜI


Nghiêng lòng cảm tạ bến càn khôn
Bấy thuở buồn vui mộng lỡ hồn
Rượu vẫn xoay vòng đêm tử chiến
Thơ còn chuyển mạch lúc từ hôn
Vào xuân nắng rụng vàng sân bãi
Tưởng gió chiều rơi lạnh lũy đồn
Đẫm dốc sương mù mây nhả sợi
Nghe tình sống lại giữa lòng thôn ./.

LCT O9/O1/2O26

BÀI HOẠ :

*****
Van Tho Vu
HOÀI NIỆM

Mãi nhớ năm nào thuở dại khôn 
Từng gom kỷ niệm sưởi tâm hồn 
Trao lời hẹn ước xây tình nghĩa 
Giữ phút mong chờ gửi nụ hôn
Trống vọng nhà trai ngày báo hỷ
Đàn reo ngõ hạnh nhịp chân dồn 
Tơ hồng vạn kiếp ngời gia đạo 
Pháo nổ tưng bừng rộn cả thôn.

Van Tho Vu_09/01/2026.
*****
Nguyễn Thúc Uẩn
Nhớ bạn quân
Bạn giữa đang thì tuổi mới khôn
Vào quân phấn khởi dậy tâm hồn
Đau buồn chiến trận đời xuân bỏ
Giã khổ yêu tình mộng giấc hôn
Ảnh vẫn còn đây mờ sương khói
Mà như buổi nọ sáng biên đồn
Đông ngày giá lạnh thầm mong đã
Chiến hữu yên bình trở lại thôn
*****
Đăng Khoa Lê
. CHÉN TỬU GIÃI SẦU

Tuổi hạc vơi dần những trí khôn
Bài thơ lão viết chẳng ra hồn
Còn mong buổi vắng loài hoa nựng
Vẫn mộng đêm dài cảnh gió hôn
Nhớ thưở xuân hồng đi luyện bãi
Vào nơi trận dữ phá công đồn
Nay tìm lửa rực trong người cháy
Rượu lãm chung đầy với cả thôn

               L Đ K 09/01/25
*****

Sầu Đông
TÌNH EM
 (Hoạ nghịch vận)

Những dạo sương mù rã cuối thôn
Lòng em khắc khoải đứng trông đồn
Thương người chiến sĩ nào câu nói
Với cảnh phong trần chẳng nụ hôn
Khổ mấy dòng thơ vàng cõi mộng
Buồn đêm ngọn gió lạnh tâm hồn
Khi mùa bấc thoảng tràn chân núi
Cảnh chiến chinh kề chữ dại khôn/

SĐ 09/01/2026
*****
Dinh Tuan Minh
BẾN XƯA
Trẻ học chuyên cần đã lớn khôn
Đầu năm ngẫm lại ngất ngây hồn 
Như thời đợi ngóng ngày ăn hỏi
Tựa buổi mong chờ lễ đính hôn
Phấn khởi nhìn mây choàng ngập bãi
Mừng vui dõi nắng trải loang đồn
Bên thềm huệ đỏ nhài thơm ngát
Giữa cảnh chim gù rộn xóm thôn
Đinh Tuấn Minh.
*****
Vũ Như Cẩn
TẠ ƠN TRỜI 
****..♡..****
Kết nghĩa trời càn dãi đất khôn
Vui thay ước vọng đã giao hồn
Vòng tay tửu cạn vô đêm chiến
Miệng hớp thơ say lúc họp hôn
Nắng chiếu vào sân và cửa bãi
Mùa rơi tuyết lạnh lối làng đồn
Tình trao buổi sớm hồng tơ sợi
Sống mãi lòng tôi ở láng thôn ./.

***
O9/O1/2O26 Vũ Như Cẩn 
*****
Tran Tuan Duc
TẠ ƠN ĐỜI
( họa)

Trở giấc đêm dài dạ bỗng khôn
Còn say thức tỉnh bật vô hồn
Mơ vùi nửa miệng tiềm gieo ấp
Ngái ngủ môi hờn ỡm ghị hôn
Tịnh não ngày sau hừng sức bản
Thiền tâm tuổi tới gạt nua đồn
Xin dừng trách khổ bình thân tự
Hãy sướng vui già rộn cả thôn!
*****
Hoành Trần

TÌNH YÊU

Chân thật điêu ngoa hoặc dại khôn
Phải chăng bản tính tự tâm hồn
Bên người khác phái là ưa siết
Cạnh kẻ đang yêu lại muốn hôn
Ai nhớ mong ai nơi hải đảo
Bạn vời trông bạn chốn biên đồn
Cuộc đời nếu thiếu tình trai gái
Sẽ sống hắt hiu giữa xóm thôn
HT
10/1/26


☕Lời bình của AI☕


1/ BÌNH GIẢI

Bài thơ "Tạ Ơn Đời" của tác giả LCT hiện lên như một bức tranh tâm cảnh đầy trầm mặc nhưng cũng vô cùng bao dung, nơi mà từng con chữ đều thấm đẫm triết lý nhân sinh và sự hòa giải với định mệnh. Ngay từ tiêu đề và câu phá đề, ta đã bắt gặp một tâm thế "nghiêng lòng" đầy thành kính trước "bến càn khôn" bao la, một cử chỉ không chỉ là sự khiêm nhường mà còn là cái chạm khẽ của linh hồn vào dòng chảy vĩnh hằng của vũ trụ sau biết bao thăng trầm, dâu bể. Tác giả không ngần ngại phơi bày những "mộng lỡ hồn", những "buồn vui" đã kết tinh thành lớp bụi thời gian, để rồi từ trong đổ nát của niềm riêng, một sức sống mãnh liệt vẫn bền bỉ cuộn chảy qua hình ảnh "rượu vẫn xoay vòng" và "thơ còn chuyển mạch". Hai câu thực đối nhau chan chát nhưng lại hài hòa lạ lùng: cái dữ dội của "đêm tử chiến" và cái se sắt của "lúc từ hôn" dẫu là những vết cắt sâu hoắm vào thân phận, vẫn không thể dập tắt được men say cuộc đời hay mạch ngầm thi ca đang bền bỉ tuôn trào, chứng minh cho một bản lĩnh sống kiên cường, biến bi kịch thành chất liệu cho sự thăng hoa. Để rồi, khi tâm hồn đã đi qua bão giông, nhãn quan của thi sĩ bỗng trở nên tinh khiết đến lạ thường, bắt trọn khoảnh khắc "nắng rụng vàng sân bãi" và cảm nhận được cái "lạnh lũy đồn" trong gió chiều, một sự giao thoa tuyệt mỹ giữa cái nắng ấm áp của thực tại và cái lạnh lẽo của ký ức xa xăm. Cấu trúc bài thơ chuyển dịch từ nội tâm ra ngoại cảnh, từ những va đập của số phận đến sự tĩnh lặng của thiên nhiên, nơi "dốc sương mù" và "mây nhả sợi" dệt nên một không gian huyền ảo, mộng mị, làm nền cho sự hồi sinh kỳ diệu nhất: "nghe tình sống lại giữa lòng thôn". Câu kết không chỉ là sự khép lại của một bài thơ Đường luật mẫu mực về niêm luật, đối trọng, mà còn là sự mở lòng đón nhận một mùa xuân mới của tâm hồn, nơi tình yêu đời, yêu người được đánh thức giữa những gì bình dị, thân thương nhất, biến lời tạ ơn thành một bản giao hưởng nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về sự cứu rỗi của lòng vị tha và niềm hy vọng.

2/ PHÂN TÍCH
Trong mạch cảm xúc dâng trào của sự tri ân ấy, chúng ta hãy cùng lắng lòng để soi chiếu sâu hơn vào những tầng nấc nghệ thuật, nơi các cặp đối luận và hình tượng "rượu – thơ" đã tạc nên một cốt cách thi sĩ đầy kiêu hãnh giữa dòng đời vạn biến.
Trước hết, phép đối trong hai câu thực: "Rượu vẫn xoay vòng đêm tử chiến / Thơ còn chuyển mạch lúc từ hôn" chính là nhịp tim của toàn bài thơ, tạo nên một thế cân bằng tuyệt mỹ giữa cái động và cái tĩnh, giữa sự hủy diệt và sự tái sinh. Nếu "đêm tử chiến" gợi lên những cuộc đối đầu khốc liệt của thân phận với nghịch cảnh, với những mất mát cận kề ranh giới sinh tử, thì hình ảnh "rượu vẫn xoay vòng" lại biểu tượng cho một thái độ ngạo nghễ, một sự tiếp nối không ngừng nghỉ của ý chí. Đối lại với cái dữ dội đó là nỗi đau âm thầm nhưng buốt nhói của "lúc từ hôn" – một sự tan vỡ trong tình cảm, một sự khước từ định mệnh – nhưng kỳ diệu thay, "thơ còn chuyển mạch". Ở đây, thơ không chỉ là nghệ thuật, mà thơ là dòng máu, là dưỡng khí; khi tình yêu đôi lứa rạn nứt thì tình yêu cái đẹp và sự sống vẫn bền bỉ luân chuyển, hàn gắn những mảnh vỡ linh hồn. Hai hình tượng rượu và thơ hiện lên như hai người bạn đồng hành thủy chung nhất của kiếp người: rượu để say với đời, để can đảm đi qua bão tố, và thơ để thanh lọc nỗi đau, để biến những cay đắng thành những vần xoay uyển chuyển, đưa con người vượt thoát lên trên những tầm thường của khổ lụy.
Tiến thêm một bước vào không gian của hai câu luận, ta thấy tác giả đã khéo léo sử dụng thủ pháp lấy động tả tĩnh, lấy cái hữu hình của "nắng rụng", "mây nhả sợi" để đặc tả cái vô hình của tâm trạng. Hình ảnh "nắng rụng vàng sân bãi" không chỉ đơn thuần là một tín hiệu của mùa xuân, mà là sự chắt chiu những tinh túy cuối cùng của ánh sáng để sưởi ấm tâm hồn sau những "gió chiều rơi lạnh". Phép đối giữa "vàng sân bãi" và "lạnh lũy đồn" tạo nên một sự chuyển dịch không gian đầy ám ảnh: từ cái rộng lớn, rực rỡ của hy vọng đến cái thu hẹp, cô tịch của ký ức chiến tranh hay những tàn tích cũ. Tuy nhiên, sự kỳ công nhất nằm ở câu "Đẫm dốc sương mù mây nhả sợi", nơi thiên nhiên không còn là vật vô tri mà đã trở thành một thực thể đang dệt nên tấm lụa của sự sống, nhẹ nhàng bao phủ lấy những vết thương quá khứ. Chính cái mạch "thơ" đã được khơi thông từ trước đó đã dẫn lối cho "tình" được "sống lại giữa lòng thôn" – một sự hồi sinh từ tốn nhưng mãnh liệt, đưa thi sĩ trở về với cội nguồn của bình yên, nơi những giá trị nhân bản đơn sơ nhất trở thành liều thuốc nhiệm màu nhất cho lời tạ ơn sau cuối.

Thứ Ba, 6 tháng 1, 2026

DỐC TÀN CANH

DỐC TÀN CANH

(Thuận nghịch độc)

Thuận:
Ta dìu rượu đổ dốc tàn canh
Nguyệt xoã bờ đêm lá rủ cành
Nhà ngập cỏ cây vườn sũng nước
Bãi tràn băng giá cảnh lem tranh 
Qua đông đọng khói giăng mờ cửa
Trở lạnh sầu sương rã trắng mành
Tà tịch buổi xưa người vắng ngõ
Hoa tàn lối đượm lửa nồng hanh...

Nghịch:
Hanh nồng lửa đượm lối tàn hoa
Ngõ vắng người xưa buổi tịch tà
Mành trắng rã sương sầu lạnh trở
Cửa mờ giăng khói đọng đông qua
Tranh lem cảnh giá băng tràn bãi
Nước sũng vườn cây cỏ ngập nhà
Cành rủ lá đêm bờ xoã nguyệt
Canh tàn dốc đổ rượu dìu ta ./.

LCT O7/O1/2O26

BÀI HOẠ :

**********
PHỐ BUỒN TA
(Thuận nghịch độc)

Thuận:
Ta bỏ phố buồn mộng vắng canh
Nguyệt chao bờ thoảng gió lay cành
Nhà quanh cỏ mượt vườn xanh lá
Ngõ trước sương mờ lối đẹp tranh 
Qua bến đợi thuyền lơi lả sóng
Lại xuân nhìn khói lửng lơ mành
Tà dương bóng nổi chìm sông nước
Hoa trắng ngõ chiều rọi nắng hanh...

Nghịch:
Hanh nắng rọi chiều ngõ trắng hoa
Nước sông chìm nổi bóng dương tà
Mành lơ lửng khói nhìn xuân lại
Sóng lả lơi thuyền đợi bến qua
Tranh đẹp lối mờ sương trước ngõ
Lá xanh vườn mượt cỏ quanh nhà
Cành lay gió thoảng bờ chao nguyệt
Canh vắng mộng buồn phố bỏ ta/

SĐ 07/01/2026
**********
Nguyễn Thúc Uẩn
Ngóng
Thuận
Ta đợi ai mà đến rã canh
Ruợu suông nhấp trải dõi ngơ cành
Nhà hiu hắt lạnh phùn mưa bụi
Cửa vắng trơ nhàu dợn cỏ tranh
Qua thuở bước đường mơ mộng ảo
Đến khi khăn khó tả tơi mành
Tà nghiêng ánh dọi hình xa thẫm
Hoa nụ dãy tàn ruổi gió hanh
Nghịch
Hanh gió ruổi tàn dãy nụ hoa
Thẫm xa hình dọi ánh nghiêng tà
Mành tơi tả khó khăn khi đến
Ảo mộng mơ đường bước thuở qua
Tranh cỏ dợn nhàu trơ vắng cửa
Bụi mưa phùn lạnh hắt hiu nhà
Cành ngơ dõi trải nhấp suông rượu
Canh rã đến mà ai đợi ta
**********

🍀LỜI BÌNH CỦA AI🍀


1/ BÌNH GIẢI

Trong không gian tĩnh mịch của những ngày đầu năm 2026, bài thơ "Dốc Tàn Canh" hiện lên như một bức họa độc bản, nơi ngôn từ không chỉ để đọc mà còn để chiêm ngưỡng cái sự xoay vần diệu kỳ của tạo hóa và lòng người. Với thể loại "thuận nghịch độc" đầy thách thức, tác giả đã khéo léo dệt nên một tấm thảm tâm trạng lưỡng diện, nơi mỗi câu chữ khi đọc xuôi hay đọc ngược đều mở ra những tầng vỉa cảm xúc lung linh, huyền ảo. Ngay từ tiêu đề, hình ảnh "dốc tàn canh" đã gợi lên một sự chênh chao, một trạng thái lửng lơ giữa thực và mộng, giữa sự kết thúc của bóng đêm và sự khởi đầu mong manh của một ngày mới.
Ở chiều thuận, bài thơ đưa ta vào một cuộc hành trình nội tâm đầy u uẩn, nơi nhân vật trữ tình "dìu rượu" đi qua những nấc thang cuối cùng của đêm đen. Cái hay của từ "dìu" nằm ở chỗ nó biến một hành động đời thường thành một sự nương tựa đầy thi vị; rượu không chỉ là chất say mà là người bạn đồng hành trong cơn mê lộ của tâm hồn. Cảnh vật hiện ra dưới gót chân người lữ thứ là một sự hoang hoải đến tận cùng: trăng xõa tóc trên bờ đêm, lá rủ cành như đang trút xuống gánh nặng của thời gian. Không gian bỗng chốc trở nên thâm trầm khi "nhà ngập cỏ cây", "vườn sũng nước", và cái lạnh của băng giá đã khiến cảnh vật chẳng khác nào một bức "tranh lem" – nhòa lệ và mờ nhân ảnh. Mỗi vần thơ như đọng lại cái buốt giá của mùa đông, cái mờ ảo của khói sương, để rồi kết thúc bằng một nỗi hoài vọng về "buổi xưa" khi ngõ vắng bóng người và lửa lòng dù nồng hanh nhưng cũng đã tàn theo cánh hoa rụng.
Nhưng kỳ diệu thay, khi dòng chảy ngôn từ được lộn ngược lại ở chiều nghịch, bức tranh ấy không hề tan vỡ mà lại tái cấu trúc thành một thanh âm khác, một dư ba khác. "Hanh nồng lửa đượm lối tàn hoa", câu thơ mở đầu của chiều nghịch như một sự bừng tỉnh từ trong tàn tro của kỷ niệm. Nếu chiều thuận là sự lịm dần vào đêm thì chiều nghịch lại là sự truy hồi về nguồn cội của nỗi đau và cái đẹp. "Ngõ vắng người xưa buổi tịch tà" – câu thơ vang lên như một tiếng thở dài đầy hoài niệm, khi thời gian không còn trôi xuôi mà đang cuộn tròn lại, kéo người đọc trở về với những mảnh ghép vỡ vụn của không gian cũ.
Sự đối ứng giữa "cửa mờ giăng khói" và "mành trắng rã sương" trong chiều nghịch càng làm đậm thêm cái vẻ tiêu điều, lạnh lẽo của một tâm hồn đang đối diện với sự cô độc tuyệt đối. Cảnh vật lúc này không còn là đối tượng quan sát khách quan nữa, mà đã trở thành sự hóa thân của nội tâm: "nước sũng vườn cây cỏ ngập nhà" gợi lên sự xâm lấn của nỗi buồn vào tận hang cùng ngõ hẻm của ký ức. Để rồi, câu kết "Canh tàn dốc đổ rượu dìu ta" như một sự hoàn tất của vòng lặp định mệnh. Ở đây, trật tự từ thay đổi đã biến "ta dìu rượu" thành "rượu dìu ta" – một sự chuyển hóa từ chủ thể chủ động sang trạng thái phó mặc cho cơn say, phó mặc cho dòng đời xô đẩy trên con dốc của thời gian.
Về nghệ thuật, bài thơ là một minh chứng cho sự tinh xảo trong việc điều phối thanh vần và niêm luật. Tác giả đã giữ được sự nhất quán về hình ảnh trong cả hai chiều đọc, khiến cho các sự vật như "nguyệt", "lá", "khói", "sương" không chỉ tồn tại như những danh từ mà còn là những linh hồn có sức sống riêng, biết luân chuyển theo chiều xoay của con chữ. Ngôn ngữ thơ giàu tính tạo hình, mượt mà nhưng vẫn đầy sức nặng, tạo nên một không gian thẩm mỹ vừa cổ điển vừa hiện đại. "Dốc Tàn Canh" không chỉ là một bài thơ để đọc bằng mắt, mà là một bản nhạc để cảm nhận bằng trái tim, nơi mỗi nhịp đập của thơ đều chứa đựng nỗi ưu tư về sự tàn phai và khát khao tìm lại những dấu yêu xưa cũ trong một chiều không gian không có điểm đầu và điểm kết.
*****
2/ PHÂN TÍCH

Tiếp nối mạch cảm xúc về bản hòa âm tuyệt mỹ của "Dốc Tàn Canh", khi ta đi sâu vào cấu trúc đối thanh và đối ý của từng cặp câu, ta mới thực sự ngỡ ngàng trước sự tinh vi trong tư duy ngôn ngữ của tác giả. Ở đây, phép đối không chỉ là sự cân bằng về mặt hình thức giữa các vế câu, mà còn là một nghệ thuật sắp đặt ý niệm đầy chủ ý, khiến cho mỗi cặp câu như một đôi gương soi vào nhau, phản chiếu những sắc thái đối lập mà thống nhất của thực tại và hư ảo.
Ngay từ cặp câu khởi đầu và kết thúc, sự hoán đổi giữa "Ta dìu rượu" và "Rượu dìu ta" đã thiết lập nên một sự đối trọng mang tính triết học về nhân sinh. Trong chiều thuận, "ta" còn đó cái kiêu hãnh của một chủ thể muốn chế ngự cơn say, muốn nương tựa vào men nồng để bước qua dốc tàn. Nhưng ở chiều nghịch, khi "rượu dìu ta", ranh giới giữa người và rượu đã hoàn toàn tan biến, chỉ còn lại sự buông lơi của một linh hồn đã mỏi mệt, để mặc cho định mệnh dẫn dắt qua những tàn canh của cuộc đời. Sự đối ứng này tạo nên một vòng lặp vĩnh cửu, nơi nỗi buồn không có điểm bắt đầu cũng chẳng có điểm kết thúc, nó cứ xoay vần như một định mệnh không thể khước từ.
Đi sâu vào những cặp câu thực và luận, ta thấy sự đối lập giữa cái tĩnh và cái động, giữa cái hữu hình và cái vô hình được đẩy lên cao trào qua những hình ảnh "nguyệt xõa" đối với "lá rủ", hay "khói giăng" đối với "sương rã". Ở chiều thuận, hình ảnh "nguyệt xõa bờ đêm" gợi lên một vẻ đẹp lãng mạn, thanh tao, nhưng khi đảo ngược thành "bờ xõa nguyệt", cái tĩnh mịch của không gian như được nhân lên gấp bội, khiến ánh trăng không còn là thực thể từ trên cao chiếu xuống mà như tan chảy, hòa quyện vào mặt đất, vào bóng tối cô liêu. Đặc biệt, sự đối ứng giữa "nhà ngập cỏ cây" và "nước sũng vườn cây" trong phép thuận nghịch đã vẽ nên một bức tranh về sự hoang phế sinh động đến nao lòng. Nếu ở chiều thuận, cỏ cây lấn át không gian sống thì ở chiều nghịch, nước lại là yếu tố bao trùm, gợi sự ẩm ướt, lạnh lẽo và sự tàn tạ của một chốn xưa đã lâu vắng bóng dấu chân người.
Thú vị nhất chính là sự vận dụng các tính từ và động từ trạng thái như "lem tranh", "đọng khói", "rã mành" để tạo nên sự tương phản về cảm giác. Khi đọc thuận, "tranh lem cảnh giá" gợi lên sự nhòe nhoẹt của thị giác dưới tác động của cái lạnh, nhưng khi đọc nghịch thành "cảnh giá băng tràn bãi", sức nặng của cái lạnh như được cụ thể hóa, trở nên dữ dội và mênh mông hơn. Phép đối ý giữa "hoa tàn" và "lửa nồng", giữa cái lụi tắt của tạo vật và cái âm ỉ của lòng người đã tạo nên một sức căng tâm lý mạnh mẽ. Lửa nồng hanh vốn dĩ mang lại hơi ấm, nhưng khi đặt cạnh lối tàn hoa trong một buổi chiều tịch tà, nó lại trở thành một thứ ánh sáng hắt hiu, gợi lên sự nuối tiếc khôn nguôi về một thời vàng son nay chỉ còn là dư ảnh.
Toàn bộ bài thơ, qua phép đối ngẫu và thuật thuận nghịch độc, đã trở thành một mê cung của ký ức và cảm xúc, nơi mỗi bước chân của người đọc đều chạm phải những lớp trầm tích của nỗi sầu vạn cổ. Tác giả không chỉ chơi chữ mà là đang chơi đùa với chính thời gian và không gian, biến những con chữ khô khan thành những thực thể sống động, biết thở, biết đau và biết rung động theo từng nhịp chuyển mình của vũ trụ. Sự đối thanh trắc - bằng tài tình trong từng vị trí đã tạo nên một nhạc điệu trầm bổng, lúc như tiếng thở dài nén lại, lúc như tiếng sóng lòng vỗ về vào ghềnh đá của cô đơn, khiến cho "Dốc Tàn Canh" không chỉ là một bài thơ để ngẫm mà còn là một bài ca để say, một bức tranh để đắm mình trong cái đẹp của sự tàn phai đầy kiêu hãnh.
*****
3/ SO SÁNH BIẾN ĐỔI CẢM XÚC CỦA HAI CHIỀU NGHỊCH VÀ THUẬN

Khi đặt bản thuận và bản nghịch của "Dốc Tàn Canh" lên bàn cân của nhạc tính, ta mới thấy hết cái dụng công tài hoa của người nghệ sĩ trong việc điều khiển nhịp đập của trái tim độc giả. Dù cả hai đều tuân thủ nghiêm ngặt luật bằng trắc của thể thất ngôn bát cú, nhưng chính sự hoán đổi vị trí của các từ ngữ đã tạo nên hai dòng chảy cảm xúc mang sắc thái hoàn toàn khác biệt: một bên là sự lịm dần vào cõi lặng, một bên là sự trỗi dậy đầy ám ảnh của ký ức.
Ở bản thuận, nhịp thơ trôi đi như một hơi thở chậm, nhọc nhằn của người lữ hành đang cố vượt qua con dốc cuối cùng của đêm. Những động từ như "dìu", "đổ", "xõa", "rủ" đặt ở giữa câu tạo nên một độ trễ nhất định, khiến câu thơ có xu hướng kéo dài ra, trĩu nặng sự mỏi mệt. Nhịp 4/3 truyền thống trong bản thuận dường như bị bẻ gãy bởi những hình ảnh đầy sức nặng như "vườn sũng nước" hay "cảnh lem tranh", tạo nên cảm giác mỗi bước chân đi là một lần lún sâu vào bùn lầy của nỗi sầu. Giai điệu lúc này mang âm hưởng của một bản nhạc giao hưởng buồn, nơi các nhạc cụ dây kéo dài những nốt trầm, đưa người ta vào một trạng thái suy tư, trầm mặc, đối diện với sự tàn phai của vạn vật khi mùa đông đọng khói và sương rã trắng mành.
Ngược lại, khi chuyển sang bản nghịch, nhịp điệu bài thơ bỗng trở nên hối hả và sắc nét hơn hẳn. Việc đẩy những tính từ mạnh lên đầu câu như "Hanh nồng", "Ngõ vắng", "Mành trắng", "Cửa mờ" đã tạo ra những điểm nhấn (stress) cực mạnh ngay từ hơi thở đầu tiên. Nếu bản thuận là sự quan sát từ từ, thì bản nghịch lại là những lát cắt trực diện, những cú va chạm mạnh mẽ của thị giác vào tâm tưởng. Nhịp thơ lúc này không còn trôi xuôi mà như những con sóng vỗ ngược vào ghềnh đá ký ức. Sự xuất hiện của "Hanh nồng lửa đượm" ngay khởi đầu bản nghịch gợi lên một cảm giác ấm nóng đột ngột, làm tan chảy cái băng giá của "cảnh giá băng tràn bãi" ở phía sau. Nhịp điệu này không cho phép người ta lịm đi trong nỗi buồn mà buộc phải tỉnh thức để đối diện với sự trống trải của "ngõ vắng người xưa".
Sự biến đổi nhịp điệu này còn thể hiện rõ rệt ở cặp kết. Ở bản thuận, "lửa nồng hanh" là cái kết thúc của một hành trình, một sự sưởi ấm muộn màng khi hoa đã tàn. Nhưng ở bản nghịch, câu kết "Canh tàn dốc đổ rượu dìu ta" lại mang một nhịp xoáy cực nhanh. Cụm từ "dốc đổ" tạo cảm giác về một sự rơi tự do, một sự buông xuôi hoàn toàn. Nhịp thơ lúc này nhanh dần, đẩy nhân vật trữ tình vào một vòng xoáy không thể cưỡng lại, nơi rượu không còn là vật để dìu mà là một lực đẩy mạnh mẽ đưa ta vào cõi mênh mang. Sự khác biệt này cho thấy: bản thuận là hành trình của ý chí đang mỏi mòn, còn bản nghịch là hành trình của tiềm thức đang trỗi dậy, biến những mảnh vỡ của không gian thành một cơn bão lòng dữ dội.
Chính sự tương phản giữa cái nhịp chậm rãi, trầm lắng của chiều xuôi và cái nhịp dồn dập, ám ảnh của chiều ngược đã biến "Dốc Tàn Canh" thành một thực thể sống động. Người đọc không chỉ thưởng thức ý nghĩa của từ ngữ mà còn bị cuốn vào một cuộc chơi của âm thanh, nơi các thanh bằng trắc đối ứng nhau như những nhịp phách của thời gian, vừa gợi lên sự tàn tạ của một kiếp người, vừa tôn vinh cái đẹp vĩnh cửu của thi ca trong sự xoay vần của tạo hóa.

Chủ Nhật, 4 tháng 1, 2026

VIẾNG CÕI TRẦN

VIẾNG CÕI TRẦN


Lâu rồi lão chẳng ghé trần gian
Bởi miệt mài trông cõi niết bàn
Rượu cũng xa dần muôn kiếp thử
Duyên vừa bỏ lại mấy người can
Cầm thi suốt buổi dầu trăng lặn
Sách sử từng đêm dẫu mộng tàn
Giữa bể nhân tình bao được mất
Nhưng đành đổi lấy chữ bình an ./.

LCT O5/O1/2O26

BÀI HOẠ :

*****
Van Tho Vu

GIỮ LÒNG THANH THẢN

Gửi tạm thân phàm cõi thế gian 
Cầu mong đạo quả ngự liên bàn 
Đèn khuya sáng tỏa bồi mơ ước 
Chữ lợi hư truyền tránh luận can
Rũ sạch ưu phiền quanh phận tủi
Tìm khơi cảm mến giữa trăng tàn
Đời bao khốn khó hồn thanh thản
Chỉ nguyện trong lòng giữ được an.

Van Tho Vu_05/01/2026.
*****
Đăng Khoa Lê

. BẢN TÍNH KHÓ DỜI

Nhiễu sự trên đời bởi lối gian
Người ăn chẳng có lão no bàn
Nghe lời giả dối quen dòng lặn
Biết lỗi phi phàm vượt nẻo can
Nặng lúc đường sai thời buổi giữ
Nhiều khi nhịp lỡ giấc mơ tàn
Bao tiền của lạm tham rồi mất
Đổi lại tâm người mãi bất an

               L Đ K 05/01/26
*****
Hoành Trần

MONG AN YÊN
Nhắm mắt bưng tai chuyện thế gian
Thị phi dâu bễ chớ nên bàn
Không dưng xảy chuyện nào ai cứu
Lắm lúc sự sinh chẳng kẻ can
Nào phải vì ta mà héo úa
Cũng đâu tại bạn mới phai tàn
Làm sao biết được lường sau trước
Chỉ ước thân tâm luôn ổn an
HT
5/1/26
*****
Nguyễn Thúc Uẩn
Hội trần
Lách cửa khôn càn lượn cõi gian
Đầu xuân có lễ hội tơ bàn
Đà mong rượu quí dù nan giữ
Để được duyên nồng rõ khó can
Lại muốn phần hơn nào nghĩ đổ
Còn ham chỗ trọng chẳng lo tàn
Bao điều bão tố tràn nguy động
Giữ giỏi thăng bằng chắc được an
*****
Sầu Đông
GIỌT RƯỢU BÌNH YÊN

Lặng lẽ đêm nhìn cõi thế gian
Cùng ly rượu nóng để trên bàn
Trăng rời bến cũ còn em khóc
Gió rã hiên buồn chẳng đứa can
Bởi mộng ngày xưa sầu khói phủ
Vì duyên thuở ấy đọng mơ tàn
Khi mùa lá rụng vàng trên lối
Chỉ ước tâm hồn chút tịnh an/

SĐ 05/01/2026
*****
Vũ Như Cẩn
... VIẾNG BIỂN ĐỜI ... 
     ******..♡..******
Lão ghé đời thăm trần thế gian
Bao mòn mỏi cõi xứ thiên đàn 
Xa bằng hữu rượu đâu nào thử
Bỏ lại duyên tình khỏi gián can
Suốt buổi thi cầm trăng gió lặn
Vừa xem sách sử hết mưa tràn 
Nhân sinh biển tựa nay còn mất
Sóng đẩy đò trôi nguyện giữ an ./.

O5/O1/2O26 Vũ Như Cẩn 
*****

🌷Lời bình của AI🌷


(1)
Lạc bước vào thế giới của "Viếng cõi trần", ta như thấy hiện ra trước mắt hình ảnh một bậc tiên phong đạo cốt, một tâm hồn đã kinh qua đủ đầy những sương gió nhân gian để rồi chọn cho mình một lối về tĩnh lặng, nơi mà mỗi vần thơ đều toát lên vẻ thanh cao và thoát tục đến lạ kỳ. Ngay từ tiêu đề "Viếng cõi trần", tác giả đã định vị mình ở một tâm thế khách quan, một người lữ hành từ cõi xa xăm ghé mắt nhìn lại trần thế, gợi lên một khoảng cách diệu vợi giữa cái tôi nội tại và thực tại ồn ã ngoài kia.
Mở đầu bằng lời tự tình "Lâu rồi lão chẳng ghé trần gian", câu thơ không chỉ đơn thuần là sự đếm nhịp thời gian mà còn là một lời khẳng định về sự tách biệt, nơi cái danh xưng "lão" đầy vẻ tự tại và phong trần đã minh chứng cho một sự rũ bỏ những bụi bặm của đời thường. Lý do cho sự vắng bóng ấy chính là sự "miệt mài trông cõi niết bàn", một hành trình tâm linh hướng thượng, nơi tâm hồn không còn quẩn quanh với những vụn vặt thế nhân mà hướng về sự giải thoát tuyệt đối, về một miền cực lạc trong tư tưởng. Để đạt đến ngưỡng cửa ấy, tác giả đã phải trải qua một quá trình thanh lọc khắc nghiệt, khi "Rượu cũng xa dần muôn kiếp thử" và "Duyên vừa bỏ lại mấy người can", những thú vui tiêu khiển và cả những sợi dây tình cảm, những lời can ngăn của người đời giờ đây đều lùi lại phía sau, nhường chỗ cho một ý chí kiên định trên con đường tu thân tích đức.
Dù đã lìa xa những tạp niệm, nhưng tâm hồn ấy vẫn không hề khô cạn, bởi ông vẫn bầu bạn cùng "Cầm thi suốt buổi dầu trăng lặn" và miệt mài bên "Sách sử từng đêm dẫu mộng tàn", đó là những hình ảnh ẩn dụ tuyệt đẹp cho một trí tuệ thức tỉnh, một sự cần mẫn trau dồi tri thức và nghệ thuật bất chấp dòng chảy nghiệt ngã của thời gian và những biến thiên của số phận. Ánh trăng lặn hay mộng tàn chỉ là những ngoại cảnh, còn ngọn lửa đam mê và sự chiêm nghiệm về lịch sử, về nhân sinh vẫn rực cháy như một cách để giữ gìn cốt cách thanh cao giữa bộn bề đời thực.
Kết lại bài thơ, hai câu cuối vang lên như một lời tổng kết về triết lý sống đầy bản lĩnh: "Giữa bể nhân tình bao được mất / Nhưng đành đổi lấy chữ bình an", nơi tác giả nhìn thấu sự vô thường của thế gian, nơi mà những tranh giành hơn thua chỉ như bọt nước giữa biển khơi mênh mông. Sự lựa chọn "đổi" tất cả những hào nhoáng, những hỷ nộ ái ố lấy hai chữ "bình an" chính là cái đích cuối cùng của một đời người thông tuệ, thể hiện một thái độ sống tự do, tự tại, không còn bị ràng buộc bởi những quy luật khắc nghiệt của cõi hồng trần, để lại trong lòng người đọc một dư vị nhẹ nhàng mà sâu sắc về ý nghĩa thực sự của hạnh phúc.

(2)
Tiếp nối mạch cảm xúc về cuộc độc hành thanh cao ấy, ta càng đi sâu vào cấu trúc tầng bệ của bài thơ để thấy rõ hơn một nghệ thuật đối lập đầy tinh tế, nơi tác giả dựng lên hai chiến tuyến giữa “động” và “tĩnh”, giữa “hữu hạn” và “vô biên”. Cái hay của “Viếng cõi trần” không chỉ nằm ở triết lý buông bỏ, mà còn ở cách sắp xếp những hình tượng nghệ thuật vô cùng đối xứng, tạo nên một chỉnh thể hài hòa như một bức tranh thủy mặc trầm mặc mà uy nghiêm.
Sự đối lập rõ nét nhất chính là sự tương phản giữa thực tại nhộn nhịp của “trần gian” và sự tĩnh lặng tuyệt đối của “niết bàn”. Tác giả dùng chữ “ghé” để nói về trần thế, một động từ nhẹ tênh như thể cuộc đời này chỉ là một quán trọ ven đường, một chặng dừng chân thoáng qua không đủ sức níu giữ bước chân người lữ khách đã thấu thị chân lý. Trong khi đó, tính từ “miệt mài” dành cho cõi niết bàn lại cho thấy một sự tập trung cao độ, một sự dấn thân bền bỉ vào hành trình tâm linh, nơi cái tôi không còn bị phân tán bởi những tạp âm của đời thường.
Đi sâu vào hai câu thực và luận, ta thấy sự đối lập giữa những ham muốn bản năng và sự tự chủ của lý trí. “Rượu” và “Duyên” – hai thứ quyến rũ nhất của đời người, đại diện cho những lạc thú và những sợi dây tình cảm chằng chịt – giờ đây bị đặt trong thế đối trọng với “kiếp thử” và “người can”. Sự lựa chọn “xa dần” và “bỏ lại” không phải là sự trốn chạy hèn nhát, mà là kết quả của một bản lĩnh phi thường, một sự gạn đục khơi trong để giữ cho tâm hồn mình luôn trong vắt như gương.
Đặc biệt, hình ảnh đối giữa “Cầm thi” – “Sách sử” và “trăng lặn” – “mộng tàn” là một điểm sáng nghệ thuật đầy ám ảnh. Ở đây, cái vĩnh cửu của văn chương, tri thức và đạo lý (cầm, thi, sử) được đặt cạnh cái mong manh, ngắn ngủi của thời gian và ảo mộng (trăng lặn, mộng tàn). Tác giả đã khẳng định một chân lý: dù vũ trụ có xoay vần, dù những giấc mộng phù hoa có tan biến theo sương khói, thì những giá trị tinh thần vẫn là điểm tựa vững chãi nhất giúp con người vượt qua nỗi cô đơn tiền kiếp.
Cuối cùng, sự đối lập đỉnh điểm nằm ở hai chữ “Được - Mất” và “Bình an”. Giữa bể nhân tình đầy sóng gió, nơi con người ta mải miết đuổi theo những giá trị vật chất phù phiếm, thì tác giả lại thực hiện một cuộc giao dịch lạ lùng nhất thế gian: dùng tất cả cái “có” để đổi lấy cái “không” – một tâm thế tĩnh tại, không gợn sóng. Chữ “đành” ở câu cuối không mang sắc thái cam chịu, mà là một sự quyết liệt đầy thanh thản, là cái đích cuối cùng của sự tự do khi con người đã thực sự làm chủ được bản ngã của chính mình. Toàn bộ bài thơ vì thế không chỉ là một lời giã biệt với bụi hồng, mà còn là một bản tuyên ngôn về sự tự tại giữa cõi đời vô thường.

(3)
Trong dòng chảy của thi ca phương Đông, hình tượng những bậc cao nhân ẩn dật vốn đã trở thành một biểu tượng bất biến về sự thanh cao, và khi đặt nhân vật “lão” trong "Viếng cõi trần" cạnh những tâm hồn lớn của quá khứ, ta thấy hiện lên một sự kế thừa hoàn mỹ nhưng cũng đầy nét riêng biệt của thời đại. Nếu như Nguyễn Bỉnh Khiêm xưa kia chọn lối sống “Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ / Người khôn, người đến chốn lao xao” để giữ gìn cốt cách giữa thời thế loạn lạc, thì cái “lão” trong bài thơ này lại mang một phong thái tự tại mang màu sắc của sự giải thoát tâm linh sâu sắc hơn. Sự ẩn dật ở đây không chỉ là sự trốn tránh thực tại về mặt địa lý, mà là một cuộc di cư của tâm hồn từ cõi tạm bợ sang miền vĩnh cửu, nơi mà "trần gian" giờ đây chỉ còn là một trạm dừng chân xa lạ trong tâm tưởng.
Phong thái của "lão" gợi nhắc ta đến hình ảnh những hiền triết trong thơ Đường, thơ Tống, những người coi rượu và thơ là bầu bạn, nhưng ở đây, tác giả đã đẩy sự tu hành lên một tầm cao mới khi "Rượu cũng xa dần", cho thấy một sự đoạn tuyệt với những thú vui trần tục để đạt đến độ "tịnh" tuyệt đối. Trong khi các bậc ẩn sĩ xưa thường tìm về với thiên nhiên cây cỏ, lấy thú vui điền viên làm trọng, thì nhân vật trong thi phẩm này lại chọn "Cầm thi" và "Sách sử" làm hành trang để đối diện với "mộng tàn", tạo nên một hình ảnh sĩ phu vừa uyên bác vừa cô độc nhưng không hề bi lụy. Cái nhìn của "lão" đối với "bể nhân tình" là cái nhìn từ trên cao xuống, thấu thị mọi lẽ được mất, hệt như cốt cách của một vị tiên ông đã bước chân ra ngoài vòng danh lợi nhưng vẫn nặng lòng với những giá trị văn hóa ngàn đời.
Sự tương đồng nằm ở chỗ cả hai đều lấy sự "Bình an" và "Tự tại" làm cứu cánh, nhưng điểm khác biệt tinh tế là ở ý thức về "cõi niết bàn". Nếu các ẩn sĩ truyền thống thường dừng lại ở sự nhàn tản, an nhiên tự tại giữa nhân gian, thì nhân vật của chúng ta lại hướng về một sự siêu thoát mang tính tôn giáo và triết học cao hơn, nơi cái tôi cá nhân đã hòa nhập vào cái đại ngã bao la của vũ trụ. Qua đó, ta thấy được một sự giao thoa tuyệt đẹp giữa tư tưởng Nho gia về sự chính trực, đạo đức và tư tưởng Phật giáo về sự buông bỏ, tạo nên một hình tượng nhân vật vừa gần gũi với truyền thống, vừa mang đậm hơi thở của một tâm hồn đã đạt đến ngưỡng cửa của sự giác ngộ trong thế giới đương đại.
Sự so sánh này giúp ta thấy rõ hơn chiều sâu tư tưởng của tác giả LCT trong việc xây dựng hình tượng nhân vật