Đời người như một buổi chiều tà, khi ánh hoàng hôn buông xuống cũng là lúc lòng người quay về đối diện với chính mình. Đi qua giông bão, nếm trải đủ thăng trầm, xót xa nhất chẳng phải là sự khắc nghiệt của thời gian, mà là sự đổi thay của lòng người – khi tình nghĩa vẫn còn đó nhưng những tri kỷ đồng niên cứ thưa vắng dần theo năm tháng.
Xin gửi vào chút gió chiều một lời thơ như một tiếng lòng tự sự gửi đến những tâm hồn đồng điệu...
MỀM GIỌT NHỚ NHUNG
(Thuận nghịch độc)
Thuận:
Êm chiều gió nhẹ thoảng đầu hiên
Rụng lá vàng hoa dãy sảnh tiền
Thềm trước đảo sương lồng ngõ lặng
Cổng ngoài chao khói quyện cây yên
Thêm xa bóng cũ quê đồng ruộng
Lại bỏ người xưa xóm bãi biền
Mềm giọt nhớ nhung màu huyễn ảo
Đêm buồn nỗi vắng bạn đồng niên...
Nghịch:
Niên đồng bạn vắng nỗi buồn đêm
Ảo huyễn màu nhung nhớ giọt mềm
Biền bãi xóm xưa người bỏ lại
Ruộng đồng quê cũ bóng xa thêm
Yên cây quyện khói chao ngoài cổng
Lặng ngõ lồng sương đảo trước thềm
Tiền sảnh dãy hoa vàng lá rụng
Hiên đầu thoảng nhẹ gió chiều êm ./.
LCT O5/2O26
Bình bài thơ “Mềm giọt nhớ nhung”
Bài thơ “Mềm giọt nhớ nhung” mang vẻ đẹp rất riêng của thơ thuận nghịch độc: vừa dụng công kỹ thuật, vừa giữ được mạch cảm xúc liền lạc và giàu dư âm.
Ngay từ nhan đề, bài thơ đã tạo được một trường cảm giác mềm và sâu.
“Giọt nhớ nhung” vốn đã gợi sự đọng lại của ký ức, nhưng chữ “mềm” đặt phía trước làm nỗi nhớ ấy không sắc lạnh hay bi thương mà trở nên mơ hồ, thấm chậm như sương chiều. Đây cũng chính là linh hồn của toàn bài.
1. Không gian chiều: bảng lảng và chuyển động
Hai câu mở đầu:
Êm chiều gió nhẹ thoảng đầu hiên
Rụng lá vàng hoa dãy sảnh tiền
mở ra một không gian cổ phong rất thanh và lặng.
Chữ “êm” đứng đầu câu như phủ một lớp tĩnh khí lên toàn cảnh.
Không phải gió mạnh, không phải chiều động, mà chỉ là:
“gió nhẹ”,
“thoảng đầu hiên”.
Cảnh được cảm nhận bằng độ rung rất khẽ.
Câu thứ hai đẹp ở cách xếp hình ảnh:
lá rụng,
hoa vàng,
sảnh tiền.
Các lớp hình ảnh nối nhau tạo chiều sâu hun hút của một ngôi nhà cũ và một thời đã xa. Chữ “rụng” đặt đầu câu làm toàn cảnh nhuốm màu tàn phai ngay từ đầu nhưng vẫn rất nhã.
2. Nghệ thuật tạo “động trong tĩnh”
Hai câu thực là phần rất có thần của bài:
Thềm trước đảo sương lồng ngõ lặng
Cổng ngoài chao khói quyện cây yên
Ở đây cảnh vật không đứng yên hoàn toàn mà có những chuyển động rất nhẹ:
“đảo sương”,
“chao khói”,
“quyện”.
Sương không chỉ phủ mà đang vận động, quần tụ rồi lan vào “ngõ lặng”.
Khói không tan hẳn mà còn “chao” ngoài cổng trước khi quyện vào cây yên tĩnh.
Chính những động thái vi tế ấy làm bức tranh chiều trở nên sống động mà vẫn giữ được vẻ cô tịch.
Đặc biệt, cụm:
“lồng ngõ lặng”
rất giàu chất tạo hình. Sương như ôm lấy ngõ, phủ kín không gian và cả tâm trạng.
3. Nỗi nhớ quê và ký ức đời người
Đến hai câu luận, bài thơ chuyển từ cảnh sang tình rất tự nhiên:
Thêm xa bóng cũ quê đồng ruộng
Lại bỏ người xưa xóm bãi biền
Đây là đoạn mang nhiều sức gợi nhất về chiều sâu đời sống.
Không còn chỉ là một buổi chiều nữa, mà là:
quê cũ,
người xưa,
xóm bãi,
đồng ruộng.
Một thế giới ký ức đang lùi dần vào xa vắng.
Hai chữ:
“thêm xa”,
“lại bỏ”
làm nỗi buồn có tính thời gian. Không phải mất một lần, mà là sự xa dần từng lớp.
“Xóm bãi biền” gợi một không gian miền quê ven sông rất Nam Bộ, khiến nỗi nhớ có hồn vía đất đai chứ không mơ hồ chung chung.
4. Hai câu kết: dư âm cô tịch rất đẹp
Mềm giọt nhớ nhung màu huyễn ảo
Đêm buồn nỗi vắng bạn đồng niên...
Đây là đoạn kết rất hợp với toàn bài.
“Nhớ nhung” không còn cụ thể nữa mà đã hóa thành:
màu sắc,
sương khói,
huyễn ảo.
Ký ức giờ đây không chỉ được nhớ bằng trí nhớ mà bằng cảm giác.
Câu cuối đặc biệt thấm:
Đêm buồn nỗi vắng bạn đồng niên...
“Bạn đồng niên” là một chữ rất đời. Nó không chỉ gợi bạn bè cùng tuổi mà còn là những người cùng một thời tuổi trẻ, cùng một miền ký ức.
Nỗi buồn ở đây không bi lụy mà là cảm giác:
thời gian đã đi qua,
người xưa thưa vắng,
chỉ còn đêm và nhớ.
Dấu ba chấm cuối bài làm dư âm kéo dài như một tiếng thở nhẹ trong đêm muộn.
5. Giá trị của phần nghịch đọc
Điều đáng quý nhất là khi đọc nghịch, bài thơ vẫn giữ được:
nhạc tính,
hình tượng,
và cảm xúc.
Đặc biệt các câu:
Biền bãi xóm xưa người bỏ lại
Ruộng đồng quê cũ bóng xa thêm
khi đảo chiều lại mang cảm giác như ký ức đang quay ngược trở về quá khứ. Ý thơ không chết mà còn mở thêm chiều liên tưởng.
Hay:
Yên cây quyện khói chao ngoài cổng
Lặng ngõ lồng sương đảo trước thềm
vẫn giữ nguyên chất bảng lảng của khói sương chiều muộn.
Đây là thành công lớn của bài thơ. Bởi thuận nghịch độc khó nhất không phải đảo được chữ, mà là giữ được “hồn thơ” khi đảo.
6. Nghệ thuật nổi bật
a. Ngũ độ thanh được kiểm soát tinh tế
Bài thơ không thiên lệch đơn thuần bằng hay trắc mà có sự phối thanh mềm mại. Các thanh hỏi, huyền, nặng được đặt xen kẽ để tạo độ chùng và ngân rất hợp với không khí hoài niệm.
Khi đọc lên, câu thơ có độ lên xuống tự nhiên, không khô kỹ thuật.
b. Hình ảnh mang tính sương khói ký ức
Các hình tượng:
sương,
khói,
bóng cũ,
quê ruộng,
xóm bãi,
đêm buồn
đều có độ mờ xa, tạo cảm giác ký ức đang hiện về qua lớp thời gian.
c. Chất cổ phong hòa cùng tâm thức quê Việt
Bài thơ có hơi hướng cổ thi nhưng vẫn giữ được hồn quê Việt rất rõ, nhất là ở:
“đồng ruộng”,
“xóm bãi biền”.
Nhờ vậy bài không bị “cổ hóa” xa đời sống mà vẫn gần gũi và có căn cốt quê nhà.
7. Tổng kết
“Mềm giọt nhớ nhung” là một bài thuận nghịch độc giàu cảm xúc và có độ chín trong ngôn ngữ. Bài thơ thành công ở:
không khí chiều bảng lảng,
kỹ thuật đảo nghịch nhuần nhị,
ngũ độ thanh hài hòa,
và chiều sâu hoài niệm về quê cũ, người xưa, bạn đồng niên.
Đọc xong bài thơ, người ta có cảm giác như đang đứng giữa một chiều muộn đầy sương khói, nghe ký ức cũ trở mình rất khẽ trong lòng người đã đi qua nhiều mùa đời.

