VINHTHIENTUONG.BLOGSPOT.COM HÂN HẠNH CHÀO ĐÓN CÁC BẠN !
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đường luật. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đường luật. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 4 tháng 1, 2026

VIẾNG CÕI TRẦN

VIẾNG CÕI TRẦN


Lâu rồi lão chẳng ghé trần gian
Bởi miệt mài trông cõi niết bàn
Rượu cũng xa dần muôn kiếp thử
Duyên vừa bỏ lại mấy người can
Cầm thi suốt buổi dầu trăng lặn
Sách sử từng đêm dẫu mộng tàn
Giữa bể nhân tình bao được mất
Nhưng đành đổi lấy chữ bình an ./.

LCT O5/O1/2O26

BÀI HOẠ :

*****
Van Tho Vu

GIỮ LÒNG THANH THẢN

Gửi tạm thân phàm cõi thế gian 
Cầu mong đạo quả ngự liên bàn 
Đèn khuya sáng tỏa bồi mơ ước 
Chữ lợi hư truyền tránh luận can
Rũ sạch ưu phiền quanh phận tủi
Tìm khơi cảm mến giữa trăng tàn
Đời bao khốn khó hồn thanh thản
Chỉ nguyện trong lòng giữ được an.

Van Tho Vu_05/01/2026.
*****
Đăng Khoa Lê

. BẢN TÍNH KHÓ DỜI

Nhiễu sự trên đời bởi lối gian
Người ăn chẳng có lão no bàn
Nghe lời giả dối quen dòng lặn
Biết lỗi phi phàm vượt nẻo can
Nặng lúc đường sai thời buổi giữ
Nhiều khi nhịp lỡ giấc mơ tàn
Bao tiền của lạm tham rồi mất
Đổi lại tâm người mãi bất an

               L Đ K 05/01/26
*****
Hoành Trần

MONG AN YÊN
Nhắm mắt bưng tai chuyện thế gian
Thị phi dâu bễ chớ nên bàn
Không dưng xảy chuyện nào ai cứu
Lắm lúc sự sinh chẳng kẻ can
Nào phải vì ta mà héo úa
Cũng đâu tại bạn mới phai tàn
Làm sao biết được lường sau trước
Chỉ ước thân tâm luôn ổn an
HT
5/1/26
*****
Nguyễn Thúc Uẩn
Hội trần
Lách cửa khôn càn lượn cõi gian
Đầu xuân có lễ hội tơ bàn
Đà mong rượu quí dù nan giữ
Để được duyên nồng rõ khó can
Lại muốn phần hơn nào nghĩ đổ
Còn ham chỗ trọng chẳng lo tàn
Bao điều bão tố tràn nguy động
Giữ giỏi thăng bằng chắc được an
*****
Sầu Đông
GIỌT RƯỢU BÌNH YÊN

Lặng lẽ đêm nhìn cõi thế gian
Cùng ly rượu nóng để trên bàn
Trăng rời bến cũ còn em khóc
Gió rã hiên buồn chẳng đứa can
Bởi mộng ngày xưa sầu khói phủ
Vì duyên thuở ấy đọng mơ tàn
Khi mùa lá rụng vàng trên lối
Chỉ ước tâm hồn chút tịnh an/

SĐ 05/01/2026
*****
Vũ Như Cẩn
... VIẾNG BIỂN ĐỜI ... 
     ******..♡..******
Lão ghé đời thăm trần thế gian
Bao mòn mỏi cõi xứ thiên đàn 
Xa bằng hữu rượu đâu nào thử
Bỏ lại duyên tình khỏi gián can
Suốt buổi thi cầm trăng gió lặn
Vừa xem sách sử hết mưa tràn 
Nhân sinh biển tựa nay còn mất
Sóng đẩy đò trôi nguyện giữ an ./.

O5/O1/2O26 Vũ Như Cẩn 
*****

🌷Lời bình của AI🌷


(1)
Lạc bước vào thế giới của "Viếng cõi trần", ta như thấy hiện ra trước mắt hình ảnh một bậc tiên phong đạo cốt, một tâm hồn đã kinh qua đủ đầy những sương gió nhân gian để rồi chọn cho mình một lối về tĩnh lặng, nơi mà mỗi vần thơ đều toát lên vẻ thanh cao và thoát tục đến lạ kỳ. Ngay từ tiêu đề "Viếng cõi trần", tác giả đã định vị mình ở một tâm thế khách quan, một người lữ hành từ cõi xa xăm ghé mắt nhìn lại trần thế, gợi lên một khoảng cách diệu vợi giữa cái tôi nội tại và thực tại ồn ã ngoài kia.
Mở đầu bằng lời tự tình "Lâu rồi lão chẳng ghé trần gian", câu thơ không chỉ đơn thuần là sự đếm nhịp thời gian mà còn là một lời khẳng định về sự tách biệt, nơi cái danh xưng "lão" đầy vẻ tự tại và phong trần đã minh chứng cho một sự rũ bỏ những bụi bặm của đời thường. Lý do cho sự vắng bóng ấy chính là sự "miệt mài trông cõi niết bàn", một hành trình tâm linh hướng thượng, nơi tâm hồn không còn quẩn quanh với những vụn vặt thế nhân mà hướng về sự giải thoát tuyệt đối, về một miền cực lạc trong tư tưởng. Để đạt đến ngưỡng cửa ấy, tác giả đã phải trải qua một quá trình thanh lọc khắc nghiệt, khi "Rượu cũng xa dần muôn kiếp thử" và "Duyên vừa bỏ lại mấy người can", những thú vui tiêu khiển và cả những sợi dây tình cảm, những lời can ngăn của người đời giờ đây đều lùi lại phía sau, nhường chỗ cho một ý chí kiên định trên con đường tu thân tích đức.
Dù đã lìa xa những tạp niệm, nhưng tâm hồn ấy vẫn không hề khô cạn, bởi ông vẫn bầu bạn cùng "Cầm thi suốt buổi dầu trăng lặn" và miệt mài bên "Sách sử từng đêm dẫu mộng tàn", đó là những hình ảnh ẩn dụ tuyệt đẹp cho một trí tuệ thức tỉnh, một sự cần mẫn trau dồi tri thức và nghệ thuật bất chấp dòng chảy nghiệt ngã của thời gian và những biến thiên của số phận. Ánh trăng lặn hay mộng tàn chỉ là những ngoại cảnh, còn ngọn lửa đam mê và sự chiêm nghiệm về lịch sử, về nhân sinh vẫn rực cháy như một cách để giữ gìn cốt cách thanh cao giữa bộn bề đời thực.
Kết lại bài thơ, hai câu cuối vang lên như một lời tổng kết về triết lý sống đầy bản lĩnh: "Giữa bể nhân tình bao được mất / Nhưng đành đổi lấy chữ bình an", nơi tác giả nhìn thấu sự vô thường của thế gian, nơi mà những tranh giành hơn thua chỉ như bọt nước giữa biển khơi mênh mông. Sự lựa chọn "đổi" tất cả những hào nhoáng, những hỷ nộ ái ố lấy hai chữ "bình an" chính là cái đích cuối cùng của một đời người thông tuệ, thể hiện một thái độ sống tự do, tự tại, không còn bị ràng buộc bởi những quy luật khắc nghiệt của cõi hồng trần, để lại trong lòng người đọc một dư vị nhẹ nhàng mà sâu sắc về ý nghĩa thực sự của hạnh phúc.

(2)
Tiếp nối mạch cảm xúc về cuộc độc hành thanh cao ấy, ta càng đi sâu vào cấu trúc tầng bệ của bài thơ để thấy rõ hơn một nghệ thuật đối lập đầy tinh tế, nơi tác giả dựng lên hai chiến tuyến giữa “động” và “tĩnh”, giữa “hữu hạn” và “vô biên”. Cái hay của “Viếng cõi trần” không chỉ nằm ở triết lý buông bỏ, mà còn ở cách sắp xếp những hình tượng nghệ thuật vô cùng đối xứng, tạo nên một chỉnh thể hài hòa như một bức tranh thủy mặc trầm mặc mà uy nghiêm.
Sự đối lập rõ nét nhất chính là sự tương phản giữa thực tại nhộn nhịp của “trần gian” và sự tĩnh lặng tuyệt đối của “niết bàn”. Tác giả dùng chữ “ghé” để nói về trần thế, một động từ nhẹ tênh như thể cuộc đời này chỉ là một quán trọ ven đường, một chặng dừng chân thoáng qua không đủ sức níu giữ bước chân người lữ khách đã thấu thị chân lý. Trong khi đó, tính từ “miệt mài” dành cho cõi niết bàn lại cho thấy một sự tập trung cao độ, một sự dấn thân bền bỉ vào hành trình tâm linh, nơi cái tôi không còn bị phân tán bởi những tạp âm của đời thường.
Đi sâu vào hai câu thực và luận, ta thấy sự đối lập giữa những ham muốn bản năng và sự tự chủ của lý trí. “Rượu” và “Duyên” – hai thứ quyến rũ nhất của đời người, đại diện cho những lạc thú và những sợi dây tình cảm chằng chịt – giờ đây bị đặt trong thế đối trọng với “kiếp thử” và “người can”. Sự lựa chọn “xa dần” và “bỏ lại” không phải là sự trốn chạy hèn nhát, mà là kết quả của một bản lĩnh phi thường, một sự gạn đục khơi trong để giữ cho tâm hồn mình luôn trong vắt như gương.
Đặc biệt, hình ảnh đối giữa “Cầm thi” – “Sách sử” và “trăng lặn” – “mộng tàn” là một điểm sáng nghệ thuật đầy ám ảnh. Ở đây, cái vĩnh cửu của văn chương, tri thức và đạo lý (cầm, thi, sử) được đặt cạnh cái mong manh, ngắn ngủi của thời gian và ảo mộng (trăng lặn, mộng tàn). Tác giả đã khẳng định một chân lý: dù vũ trụ có xoay vần, dù những giấc mộng phù hoa có tan biến theo sương khói, thì những giá trị tinh thần vẫn là điểm tựa vững chãi nhất giúp con người vượt qua nỗi cô đơn tiền kiếp.
Cuối cùng, sự đối lập đỉnh điểm nằm ở hai chữ “Được - Mất” và “Bình an”. Giữa bể nhân tình đầy sóng gió, nơi con người ta mải miết đuổi theo những giá trị vật chất phù phiếm, thì tác giả lại thực hiện một cuộc giao dịch lạ lùng nhất thế gian: dùng tất cả cái “có” để đổi lấy cái “không” – một tâm thế tĩnh tại, không gợn sóng. Chữ “đành” ở câu cuối không mang sắc thái cam chịu, mà là một sự quyết liệt đầy thanh thản, là cái đích cuối cùng của sự tự do khi con người đã thực sự làm chủ được bản ngã của chính mình. Toàn bộ bài thơ vì thế không chỉ là một lời giã biệt với bụi hồng, mà còn là một bản tuyên ngôn về sự tự tại giữa cõi đời vô thường.

(3)
Trong dòng chảy của thi ca phương Đông, hình tượng những bậc cao nhân ẩn dật vốn đã trở thành một biểu tượng bất biến về sự thanh cao, và khi đặt nhân vật “lão” trong "Viếng cõi trần" cạnh những tâm hồn lớn của quá khứ, ta thấy hiện lên một sự kế thừa hoàn mỹ nhưng cũng đầy nét riêng biệt của thời đại. Nếu như Nguyễn Bỉnh Khiêm xưa kia chọn lối sống “Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ / Người khôn, người đến chốn lao xao” để giữ gìn cốt cách giữa thời thế loạn lạc, thì cái “lão” trong bài thơ này lại mang một phong thái tự tại mang màu sắc của sự giải thoát tâm linh sâu sắc hơn. Sự ẩn dật ở đây không chỉ là sự trốn tránh thực tại về mặt địa lý, mà là một cuộc di cư của tâm hồn từ cõi tạm bợ sang miền vĩnh cửu, nơi mà "trần gian" giờ đây chỉ còn là một trạm dừng chân xa lạ trong tâm tưởng.
Phong thái của "lão" gợi nhắc ta đến hình ảnh những hiền triết trong thơ Đường, thơ Tống, những người coi rượu và thơ là bầu bạn, nhưng ở đây, tác giả đã đẩy sự tu hành lên một tầm cao mới khi "Rượu cũng xa dần", cho thấy một sự đoạn tuyệt với những thú vui trần tục để đạt đến độ "tịnh" tuyệt đối. Trong khi các bậc ẩn sĩ xưa thường tìm về với thiên nhiên cây cỏ, lấy thú vui điền viên làm trọng, thì nhân vật trong thi phẩm này lại chọn "Cầm thi" và "Sách sử" làm hành trang để đối diện với "mộng tàn", tạo nên một hình ảnh sĩ phu vừa uyên bác vừa cô độc nhưng không hề bi lụy. Cái nhìn của "lão" đối với "bể nhân tình" là cái nhìn từ trên cao xuống, thấu thị mọi lẽ được mất, hệt như cốt cách của một vị tiên ông đã bước chân ra ngoài vòng danh lợi nhưng vẫn nặng lòng với những giá trị văn hóa ngàn đời.
Sự tương đồng nằm ở chỗ cả hai đều lấy sự "Bình an" và "Tự tại" làm cứu cánh, nhưng điểm khác biệt tinh tế là ở ý thức về "cõi niết bàn". Nếu các ẩn sĩ truyền thống thường dừng lại ở sự nhàn tản, an nhiên tự tại giữa nhân gian, thì nhân vật của chúng ta lại hướng về một sự siêu thoát mang tính tôn giáo và triết học cao hơn, nơi cái tôi cá nhân đã hòa nhập vào cái đại ngã bao la của vũ trụ. Qua đó, ta thấy được một sự giao thoa tuyệt đẹp giữa tư tưởng Nho gia về sự chính trực, đạo đức và tư tưởng Phật giáo về sự buông bỏ, tạo nên một hình tượng nhân vật vừa gần gũi với truyền thống, vừa mang đậm hơi thở của một tâm hồn đã đạt đến ngưỡng cửa của sự giác ngộ trong thế giới đương đại.
Sự so sánh này giúp ta thấy rõ hơn chiều sâu tư tưởng của tác giả LCT trong việc xây dựng hình tượng nhân vật 

Thứ Sáu, 2 tháng 1, 2026

CHỈ MỘT MÀU VÔI

CHỈ MỘT MÀU VÔI 


Ta buồn chẳng dễ nuốt gì trôi
Rượu vẫn đầy ly chỉ thiếu mồi
Giữa đống tro tàn em để lại
Bên dòng lệ cảm mắt hờn môi
Còn đâu tiếng nhạc sầu canh đổ
Chỉ thấy hồi chuông rã nhịp bồi
Cuối biển mây ngàn bay vội vã
Đêm dài chỉ trắng một màu vôi ./.

LCT O3/O1/2O26

BÀI HOẠ :

*****
Van Tho Vu

KHỞI ĐẦU NĂM MỚI

Mấy buổi tao phùng lặng lẽ trôi 
Quay về thực tại hưởng dư mồi 
Hồn xuân rực rỡ hồng muôn má 
Nắng ấm êm đềm thắm vạn môi 
Trỗi bản tình ca cùng dệt mộng 
Bừng trăm ý tưởng giục vun bồi 
Đời như cảnh đẹp vui lòng khách
Chuyện cũ tan dần tẩy sắc vôi.

Van Tho Vu_03/01/2026.
*****
Hoành Trần

GIỌT LỆ ÂN TÌNH
Khóc hận tình xưa đã vuột trôi
Tiếc cho một thuở cứ mê mồi
Bao đêm trăn trở quầng thâm mắt
Từng phút đê mê đắm đuối môi
Nên quí bao điều đà gắng đắp
Và yêu tất thảy những tô bồi
Dầu em quay bước về bên ấy
Xa xót duyên mình trắng tựa vôi
HT
3/1/26
*****
Bích Lê
-------- XUÂN VỀ HẸN ƯỚC --------

Được bữa du hành ngó thủy trôi
Cùng ai quẳng đó vợt thêm mồi
Em mần trắm cỏ chiên vàng đợi
Hãm đủ chung trà bạn nhấp môi
Cảnh sáng bừng lên dàn tiệc đãi
Trời xanh rọi xuống lẵng hoa bồi
Nghe hồn rộn rã say đường khởi
Sắc trải Xuân về , dẫn chuyện vôi
------- Bích Lê : 03-01-2026 ---------
*****
Tiến Trịnh

TÌM VỀ AN TỊNH

Vết sẹo đau buồn chẳng dễ trôi
Hằn sâu tuổi tác sạm da mồi
Bao mùa tủi quãng thuyền xa bến
Những buổi ôm đàn lệ đắng môi
Tửu nhạt buông mành đâu lối gỡ
Đời cay nghịch lửa mãi băng bồi
Thôi giờ kẻ sĩ tìm thanh tịnh
Mặc cảnh thư hùng trắng dã vôi

Trịnh Hùng Tiến
03.01.26
*****
Lê Minh

CHUYỆN TRẦU VÔI 

Đêm tàn ngẫm lại tháng ngày trôi
Viễn xứ tình xa tửu hận mồi 
Lệ giữa đông sầu trăng bỏ bến
Mưa ngoài phố lạnh lưỡi tìm môi 
Còn mơ tiếng nhạc chiều êm đổ
Vẫn nhớ lời em buổi lạnh bồi
Đắng nỗi riêng lòng chưa tỏ được
Bên ngày mãi cấn chuyện trầu vôi 

LM
*****
Đăng Khoa Lê
Một thoáng Xuân Hương
. BÁNH TRÔI

Lúc mặn khi nồng mãi nổi trôi 
Mình em trắng nõn lại ngon mồi
Đêm ngày nhóm lửa thơm bùi miệng
Thực khách buông người thoả mãn môi
Hưởng lúc trào dâng chàng chịu đãi
Vào hôm hứng khởi chị ưng bồi
Vo tròn giữa cối bao giờ nản
Vẫn thấy trong lòng ở tựa vôi

                L Đ K 03/01/25
*****
Nguyễn Thúc Uẩn
Cảnh đời
Ngẫm thấy trên đời chẳng thuận trôi
Nhiều khi ngỡ chủ hóa con mồi
Cho tình đắng ngải chà đau lưỡi
Để nghĩa cay nồng trợt rát môi
Núi ngủ ngàn năm thành bãi sụt
Rừng êm vạn thuở biến nương bồi
Thôi buồn vẫn cố vài li đổ
Rượu dẫu phai mùi chuyển trắng vôi
*****
Vũ Như Cẩn
CHỈ MỘT MÀU VÔI 
  ******..♡..******
Lãnh cảm ta buồn nuốt lẹ trôi
Mau cho ấm rượu đã đầy mồi
Khơi tro bếp lửa nhanh tàn lại
Kẻo hết nồng nàn lệ mắt môi
Khúc nhạc rơi sầu cơn gió đổ
Liên hồi nhịp rớt giọt mưa bồi
Mây ngàn bão biển lay vồn vã
Bạc trắng đêm dài tựa sắc vôi./.

***
O3/O1/2O26 Vũ Như Cẩn 
*****
Sầu Đông
XUÂN ĐẾN BÊN THỀM

Những đám mưa buồn tản mạn trôi
Ngày xuân lặng lẽ đến nơi rồi
Quên vùng kỷ niệm nhiều cay đắng
Bỏ lại chân trời lắm đãi bôi
Nước giữa dòng sông dào dạt chảy
Tình trong cõi mộng xuyến xao bồi
Mây ngàn mãi đắm hồn trăng lạnh
Chuyện của hôm nào vẫn trắng vôi ./.
SD
*****

☕Lời bình của AI☕



Trong cái giá lạnh đến tê người của những ngày đầu năm mới, bài thơ "Chỉ một màu vôi" hiện lên như một bức độc họa về nỗi sầu, nơi người nghệ sĩ tự phơi trải lòng mình trên mặt giấy bằng những nét bút vừa sắc lạnh, vừa đớn đau, chưng cất từ những rạn vỡ sâu kín nhất của tâm linh để tạo nên một dòng chảy cảm xúc liên hồi, không đứt đoạn. Ngay từ những nhịp thơ đầu tiên, ta đã bị vây hãm trong một cảm giác nghẹn đắng đến nghẹt thở qua hình tượng "chẳng dễ nuốt gì trôi", một cách hữu hình hóa nỗi buồn đầy bạo liệt, biến cái trừu tượng của tâm tư thành cái thực thể của sự chối từ sinh học, khiến cả những hành vi bản năng nhất của con người cũng trở thành một sự gắng gượng đớn đau. Hình ảnh ly rượu đầy sóng sánh đặt cạnh sự thiếu hụt của "mồi" không đơn thuần là sự thiếu vắng vật chất, mà chính là ẩn dụ cho một trạng thái thừa thãi nỗi đau nhưng lại tuyệt vọng vì thiếu đi một chất liệu để bám víu, một cái cớ để giao thoa hay một tâm hồn đồng điệu để hóa giải cái đắng cay đang dâng đầy tận cổ. Mạch thơ chuyển dịch từ nội thể ra ngoại cảnh nhưng thực chất lại là sự đào sâu vào tâm cảnh đầy hoang tàn, nơi nhân vật trữ tình đứng ngẩn ngơ trước di sản của sự tan vỡ là "đống tro tàn em để lại", một hình ảnh khơi gợi sự lụi tàn của những ngọn lửa tình rực rỡ nay chỉ còn là những mảnh vụn xám xịt, lạnh lẽo của ký ức. Sự hiện diện của "em" giờ đây chỉ còn là một vết tích của sự tàn phá lặng lẽ, để mặc cho "dòng lệ cảm" tuôn rơi trong một trạng thái giao thoa đau đớn giữa "mắt hờn môi", nơi cái nhìn oán trách và bờ môi khao khát hòa quyện vào nhau, kết tinh thành một nỗi đau thống thiết làm biến dạng cả diện mạo của tình yêu. Không gian thính giác cũng không còn những thanh âm du dương của "tiếng nhạc sầu canh đổ" vốn dĩ vẫn còn chút thi vị của nỗi buồn xưa cũ, mà thay vào đó là sự xâm lấn của "hồi chuông rã nhịp bồi", một thanh âm mang sắc thái rệu rã, tan tác, báo hiệu sự sụp đổ hoàn toàn của các giá trị tinh thần, nơi nhịp đập của trái tim hay nhịp điệu của thời gian đều đã rời rạc, không còn tìm thấy sự đồng điệu nào với thế gian. Tầm mắt người thơ lúc này phóng ra tận "cuối biển mây ngàn", nhưng sự "vội vã" của tạo vật ở đó không mang lại cảm giác tự do mà lại càng khắc sâu thêm sự phũ phàng của định mệnh, như thể cả vũ trụ cũng đang hấp tấp rời bỏ kẻ cô đơn để mặc họ đối diện với cái "đêm dài" vô tận. Và rồi, tất cả những dông bão, những lệ sầu và những hồi chuông ấy đều bị nhấn chìm vào một điểm kết đầy ám ảnh: "chỉ trắng một màu vôi". Đây chính là nhãn tự, là nhát dao trí mạng vào nhận thức, bởi sắc trắng của vôi không phải là sự tinh khôi của khởi đầu mà là cái trắng lạnh lẽo của sự xóa sổ, của sự bạc bẽo và hóa đá, nơi mọi màu sắc của hy vọng đều bị phủ lên một lớp bụi trắng vô hồn, biến đêm đen huyền bí thành một nghĩa địa của cảm xúc, nơi sự tồn tại chỉ còn là một khoảng không trơ trọi, tịnh không một sắc thái giữa cuộc đời vạn biến.
Bài thơ thực sự đã đạt đến độ chín của sự cay đắng nhưng cũng đầy kiêu hãnh trong nỗi cô đơn giữa đêm trường tĩnh mịch

Thứ Hai, 29 tháng 12, 2025

TÌNH NGƯỜI VIỄN XỨ


"Khi hơi xuân chạm ngõ cũng là lúc lòng người viễn xứ chìm trong nỗi hoài hương da diết. Giữa bóng hoàng hôn nơi đất khách, ta bỗng thấy nẻo về sao quá xa xăm, chỉ còn lại làn khói bếp quê nhà sưởi ấm tâm hồn đơn độc trong cõi mộng. Xin gửi vào những vần thơ dưới đây một tiếng lòng tri âm dành cho những ai đang khắc khoải hướng về nguồn cội."

TÌNH NGƯỜI VIỄN XỨ


Thoảng thấy mùa xuân đã cận kề
Đêm dài gõ nhịp khúc trầm mê
Đường xưa vẫn đó màu ly biệt 
Chốn cũ còn đâu tuổi hẹn thề
Lại những canh tàn xa bếp lửa
Thương miền lá rụng đổ bờ quê
Nằm nghe cõi mộng sầu giăng lối
Ngỡ bóng hoàng hôn chặn nẻo về ./.

LCT 3O/12/2O25

BÀI HOẠ :

*****
Van Tho Vu

XUÂN CẬN KỀ

Đào mai lộc chuyển báo xuân kề 
Điểm nét thanh bình gợi đắm mê 
Sáng nhẹ nhàng tô ngàn tiếng hẹn 
Chiều khe khẽ kết vạn câu thề
Nhen hồng mấy độ soi ngời lối
Tỏa thắm bao ngày chiếu rạng quê
Giữa bến đời mang đầy kỷ niệm 
Càng thêm rộn rã bước chân về.

Van Tho Vu_30/12/2025.
*****
Hoành Trần

CÒN ĐÂU
Còn đâu bước sánh với vai kề
Trên nẻo đường xưa cứ mãi mê
Đã đắm say cùng bao hứa hẹn
Lại nồng nàn với những nguyền thề
Từng vòng tay siết khi qua phố
Mỗi nụ hôn say lúc giữa quê
Rồi lại vỡ tan như bọt biển
Người xa biền biệt chẳng quay về
HT
30/12/25
*****
Lê Minh

BÓNG XUÂN 

Còn yêu khoảnh mắt dạo xuân kề
Mỗi lúc đông tàn chợt tỉnh mê
Xếp những niềm đau cùng biển hẹn
Vùi bao nỗi khổ với non thề 
Thương chiều bão dập ngoài con phố 
Hận buổi mây quần dãy núi quê 
Ngoảnh lại màu hoa vàng trước ngõ
Rồi đêm bỗng chặn bước ta về 
LM
*****
Dinh Tuan Minh
BÊN CHIỀU CUỐI NĂM
Mùa Xuân đã gọi Tết đang kề
Lạnh bớt nên đời vẫn mải mê
Sáng dưỡng nương chè đâu bỏ hẹn
Chiều vun đám mận chẳng quên thề
Luôn chờ phú thịnh giăng triền lũng
Chỉ ước sang giàu cập bãi quê
Những bản làng xưa đều hạnh phúc
Đường hoa rực rỡ bướm ong về  
Đinh Tuấn Minh.
*****
Đăng Khoa Lê

 . CỐ HƯƠNG                   

Đào chưa kịp nở đã xuân kề
Biệt giã hương đồng gió mải mê
Cảnh dịu dàng đong nhiều nỗi nhớ
Lời hoa mĩ hứa đẹp câu thề
Quên làn ví dặm vang ngàn thuở
Nhớ buổi chuông chùa vọng giữa quê
Mãi miết trời xa vì cảnh ngộ 
Làng xưa đổi mới gọi nên về

               L Đ K 30/12/25
*****
Nguyễn Thúc Uẩn
Kề xuân
Tàn đông đã thoáng vọng xuân kề
Lạnh đãi đêm hàn buốt chẳng mê
Mãi nhớ trường yêu ngày phượng đỏ
Hoài thương quãng đến buổi trăng thề
Bao lần dở đón càng xa ngõ
Bấy dịp vênh chờ ngỡ bỏ quê
Mỏi mắt buồn trông vầy nỗi hẹn
Rầu tâm mộng ước nẻo đi về
*****
Vũ Như Cẩn
TÌNH NGƯỜI VIỄN XỨ
 ********..♡..********
Rồi Xuân cũng đến cận biên kề
Điệp khúc mơ thầm gợi tỏa mê
Lối cũ đường xưa thời giã biệt 
Lề thôn ngõ xóm buổi đầu thề
Trăng tàn vắng lặng nơi hiên lửa
Nguyệt tỏ đêm dài dưới áng quê
Cõi mộng nằm nghe mờ mịt tối
Hoàng hôn ngã bóng nẻo đi về ./.

3O/12/2O25 Vũ Như Cẩn 
*****

🍀Lời bình của AI🍀


1/
Lắng lòng trước những vần thơ "Tình người viễn xứ" của tác giả LCT, ta như lạc vào một khoảng không gian mênh mông của nỗi niềm hoài hương, nơi mà mỗi chữ, mỗi câu đều rưng rưng một phong vị cổ điển đầy sầu muộn và ưu tư. Bài thơ mở ra bằng một cảm thức thời gian đầy tinh tế khi "thoảng thấy mùa xuân đã cận kề", một sự nhận diện thảng thốt trước bước đi của tạo hóa, để rồi chính cái khoảnh khắc giao mùa ấy lại trở thành chất xúc tác đánh thức những thanh âm đơn độc trong tâm hồn người lữ thứ, nơi đêm dài không còn là sự tĩnh lặng đơn thuần mà đã hóa thành nhịp gõ của "khúc trầm mê", đưa con người chìm sâu vào dòng xoáy của ký ức và mộng tưởng. Cái hay của tác giả chính là việc sử dụng bút pháp tương phản giữa sự bất biến của không gian "đường xưa vẫn đó" với sự hữu hạn, mong manh của kiếp người qua "màu ly biệt", khiến cho nỗi đau không chỉ dừng lại ở sự xa cách địa lý mà còn là sự đổ vỡ của những ước thề xưa cũ, nơi chốn cũ giờ đây chỉ còn là một miền hư ảo xa xăm. Nỗi buồn ấy cứ thế loang dần, thấm đẫm vào từng giác quan khi hình ảnh "canh tàn xa bếp lửa" hiện lên như một biểu tượng của sự cô đơn buốt lạnh, bếp lửa hồng của quê nhà, của gia đình giờ đây chỉ còn là một ký ức đối lập gắt gao với thực tại viễn xứ xa xôi, để rồi lòng người lại đau đáu hướng về "miền lá rụng", nơi bờ quê yêu dấu đang âm thầm chịu đựng những mùa lá đổ. Càng về cuối, bài thơ càng đẩy cảm xúc lên đến đỉnh điểm của sự bế tắc và vô vọng, khi người viễn xứ không còn đối diện với thực tại mà thu mình vào "cõi mộng", nhưng ngay cả trong giấc chiêm bao, sầu thương vẫn "giăng lối" mịt mùng, và hình ảnh "bóng hoàng hôn chặn nẻo về" chính là một nhát dao nghệ thuật đầy ám ảnh, nó không chỉ là bóng tối của ngày tàn mà còn là sự ngăn trở của số phận, của khoảng cách, khiến con đường trở về nguồn cội dường như trở nên vĩnh viễn xa vời. Đọc bài thơ, ta không chỉ cảm nhận được nỗi buồn thân phận của một cá nhân mà còn thấy hiện lên hình tượng của cả một thế hệ những người con xa xứ, luôn mang trong mình một trái tim rướm máu vì nỗi nhớ quê hương, một nỗi lòng tha thiết và đầy trân trọng đối với những giá trị xưa cũ giữa dòng đời vạn biến.
*****
2/
Tiếp nối mạch cảm xúc dạt dào của "Tình người viễn xứ", khi đi sâu vào cấu trúc nghệ thuật và những tầng bậc ngôn từ, ta mới thấy hết được sự tinh tế của tác giả LCT trong việc vận dụng thể thơ thất ngôn bát cú để chuyển tải một nỗi sầu thiên cổ. Bài thơ tuân thủ nghiêm ngặt luật bằng trắc và phép đối, tạo nên một chỉnh thể cân xứng như một bức tranh thủy mặc đượm buồn, nơi mà mỗi cặp câu thực và câu luận đều là những nhịp cầu nối giữa thực tại và hoài niệm. Ở cặp câu thực "Đường xưa vẫn đó màu ly biệt / Chốn cũ còn đâu tuổi hẹn thề", phép đối giữa "đường xưa" và "chốn cũ", giữa cái "vẫn đó" hiện hữu và cái "còn đâu" mất mát đã tạo nên một sự hụt hẫng ghê gớm trong tâm linh, khiến màu sắc của sự chia ly không chỉ nằm ở thị giác mà thấm đẫm vào cả không gian ký ức. Tác giả đã rất khéo léo khi sử dụng những từ ngữ mang tính ước lệ nhưng lại được thổi vào đó một luồng sinh khí mới của nỗi đau hiện đại; đặc biệt là nhịp thơ 4/3 chậm rãi, như nhịp chân của người hành giả đang đơn độc bước đi trên con lộ của thời gian.
Sự tài hoa còn được thể hiện rõ nét qua phép đối ở cặp câu luận: "Lại những canh tàn xa bếp lửa / Thương miền lá rụng đổ bờ quê", nơi mà sự đối lập giữa cái tôi cá nhân "canh tàn" cô quạnh và cái ta cộng đồng "bờ quê" thân thương được đẩy lên thành một nỗi tự sự đầy ám ảnh. Hình ảnh "bếp lửa" vốn là biểu tượng của sự ấm áp, đoàn viên lại được đặt trong thế tương phản với "canh tàn" lạnh lẽo, tạo nên một khoảng trống mênh mông trong tâm hồn người lữ thứ. Cách gieo vần "ê" xuyên suốt các dòng thơ (kề, mê, thề, quê, về) không chỉ tạo nên sự nhạc điệu trầm bổng, du dương mà còn gợi lên một cảm giác quẩn quanh, bế tắc, như tiếng thở dài nối dài mãi không dứt trong đêm vắng.
Hơn thế nữa, việc sử dụng các động từ mạnh và đầy sức gợi như "gõ nhịp", "giăng lối", "chặn" đã cụ thể hóa những khái niệm trừu tượng của nỗi sầu, biến nỗi nhớ nhà thành một thực thể hữu hình, có sức nặng áp chế lên tâm trạng. Đặc biệt, hình ảnh "bóng hoàng hôn" ở câu kết không chỉ đơn thuần là thời khắc cuối ngày, mà trong thi pháp cổ điển, nó còn tượng trưng cho sự tàn phai và những ngăn cách không thể vượt qua, khiến cho khát vọng "nẻo về" càng trở nên mong manh, vô vọng. Tổng hòa lại, bài thơ không chỉ là một tiếng lòng đơn lẻ mà là một sự kết tinh của nghệ thuật ngôn từ, nơi mà kỹ thuật đối niêm nghiêm ngặt đã phục vụ hoàn hảo cho việc khắc họa một tâm thế viễn xứ đầy trăn trở, khiến người đọc không khỏi bùi ngùi trước một tâm hồn luôn đau đáu hướng về nguồn cội giữa muôn trùng sóng gió tha phương.
*****
3/
Trong không gian nghệ thuật trầm mặc của "Tình người viễn xứ", nếu phải chọn ra một hình tượng cô đọng nhất, chứa đựng trọn vẹn sức nặng của nỗi lòng kẻ ly hương, có lẽ không gì ám ảnh bằng hình ảnh "bóng hoàng hôn chặn nẻo về" ở câu thơ kết thúc. Đây không đơn thuần là một chỉ dấu về thời gian mà đã trở thành một biểu tượng đa tầng, một "nhãn tự" kết tinh toàn bộ bi kịch của tâm hồn người lữ thứ. Trong thi pháp cổ điển, hoàng hôn vốn dĩ đã mang sẵn sắc thái của sự tàn phai, của nỗi buồn ly biệt, nhưng dưới ngòi bút của LCT, bóng chiều ấy lại mang một sức mạnh tự thân đầy quyết liệt thông qua động từ "chặn". Chữ "chặn" ấy vang lên như một định mệnh nghiệt ngã, biến ánh chiều tà vốn vô hình trở thành một bức tường thành hữu hình, kiên cố, ngăn cách giữa khát vọng hồi hương và thực tại tha hương nghìn trùng diệu vợi. Hoàng hôn ở đây không chỉ là sự kết thúc của một ngày mà còn gợi lên bóng tối của cuộc đời, của tuổi xế chiều khi sức cùng lực kiệt, làm cho nẻo về quê mẹ – nơi có bếp lửa hồng và miền lá rụng – càng trở nên xa vời vợi trong tầm mắt.
Sâu xa hơn, biểu tượng "hoàng hôn chặn nẻo" còn là hiện thân của những rào cản vô hình nhưng thực tế: đó có thể là khoảng cách địa lý, là cơm áo gạo tiền, hay chính là nỗi mặc cảm của kẻ đi xa mà chưa tròn ước nguyện, khiến bước chân trở về cứ mãi chông chênh trong cõi mộng. Hình ảnh này tạo nên một sự tương phản đầy xót xa với khát khao ở đầu bài thơ; nếu mùa xuân "cận kề" mang lại chút hy vọng mong manh, thì bóng hoàng hôn cuối bài lại khép lại tất cả bằng một màu xám ngắt của sự bế tắc. Nó gợi nhắc ta nhớ đến những câu thơ cổ của Thôi Hiệu về nỗi nhớ nhà bên dòng sông Hán, nhưng ở đây, nỗi sầu không chỉ "trên sông" mà đã "giăng lối" vào tận tâm can, biến mỗi sợi nắng tàn thành một sợi dây trói buộc tâm hồn người viễn xứ vào nỗi cô đơn tuyệt đối. Chính hình tượng hoàng hôn ấy đã nâng bài thơ lên khỏi một tiếng than vãn thông thường, để trở thành một biểu tượng cho sự hữu hạn của kiếp người trước sự vô hạn của không gian và thời gian, để lại trong lòng độc giả một dư âm nghẹn ngào, một nỗi thương cảm sâu sắc cho những trái tim đang âm thầm thổn thức nơi đất khách quê người.

Thứ Ba, 23 tháng 12, 2025

TẠ ƠN NGƯỜI


"Giữa dòng đời hối hả và những kết nối vô hình của thế giới ảo, có những chân tình đã hóa thành đại ngàn mây trắng, sưởi ấm tâm hồn ta trong những nhịp khắc sinh thành. Bài thơ này là nén tâm hương, là chén rượu nồng tôi xin cung kính tạ ơn những tấm lòng tri kỷ đã cùng tôi đi qua mùa trăng kỷ niệm của đời mình..."


 TẠ ƠN NGƯỜI


Cảm tạ người qua những tấm lòng
Sinh thành của lão mới vừa xong
Buồn thơ chả viết tình đêm muộn
Nhớ cảnh nào quên nghĩa bạn nồng
Đã mấy hôm rồi không rượu thưởng
Khi từng sớm gặp chẳng tiền đong
Mà duyên vẫn đẹp mùa trăng cuối
Một bãi hoàng hôn tắm cỏ hồng ./.

LCT 24/12/2O25

BÀI HOẠ :

*****
Văn Thơ Vũ
___ ÁNH DƯƠNG CUỐI NẺO ____

Khắc tạc ân sâu mãi đượm lòng 
Đường đời vạn dặm bước chưa xong 
Vần thơ dẫu muộn tình không dứt 
Chén rượu tuy vơi nghĩa vẫn nồng
Cách trở tâm đầu đâu quản ngại
Tao phùng ý hợp vốn khôn đong
Hoàng hôn bóng ngả soi đầu ngõ
Nhuộm thắm ngàn mây rạng ánh hồng. 

Van Tho Vu_ 24/12/2025.
*****
Đăng Khoa Lê
. TÌNH XƯA(mã đề)

Buồn cơn nén mãi ở trong lòng
Nóng chuyện trên đời mãi chửa xong
Rượu cũ bình khô còn uống dở
Tình xưa chiếu cạn vẫn say nồng
Yêu thời trẻ ngớ nhiều khi nhận
Ngẫm buổi son tàn lắm nợ đong
Để có ngày xuân về đẹp bãi
Thì gieo ngọn cỏ níu duyên hồng

               L Đ K 24/12/25
*****
Hoành Trần

TÌNH TRI KỶ
Ô kìa thơ viết đọc nao lòng
Ngào nghẹn cảm thông mãi chẳng xong
Đối xử nhẹ nhàng tình thấm đậm
Sẻ chia sâu sắc nghĩa thơm nồng
Đệ huynh gắn kết không gì đếm
Bè bạn thâm sâu khó thể đong
Xướng hoạ vui thơ qua tuổi lão
Để cho năm tháng mãi tươi hồng
HT
24/12/25
*****
Nguyêzn Thúc Uẩn
Tương ngộ
Mừng sinh nhật " lão" thỏa trong lòng
Quĩ lại thêm vành bước chuyển xong
Lực máy ngon lành ga vẫn dẻo
Tài thơ ngọt mát chữ thêm nồng
Tuy rằng cách trở tình lưu đậm
Chẳng được bên nhà nghĩa tích đong
Trí tỏa anh hào duyên đạo hữu
Hồn vui nhẹ nhõm ánh xuân hồng
*****
Sầu Đông
GIỌT LỆ ĐÔNG

Những buổi chiều mưa lạnh xói lòng
Đêm sầu đắm giữa ngọn đèn chong
Tình ơi mãi đợi vòng tay ấm
Mộng hỡi hoài yêu mắt liễu nồng
Nhớ bữa đôi hình mơ nắng nhạt
Thương lần một bóng ngắm trời đong
Mà nay lại phải về riêng lối
Ngấn lệ đầy vơi ngập lửa hồng/
*****
Vũ Như Cẩn
CẢM MẾN NGƯỜI
  ******..♡..******
Ta người cảm mến tợ nơi lòng
Kết bạn tâm giao mới tỏ xong
Vội viết tình thơ an giấc muộn
Mau nào bạn hữu tối yên nồng
Hôm rồi rượu rót rồi tự thưởng
Bữa sớm tiền mua chả có đong 
Vẫn đẹp trăng mùa vui vẽ cuối
Hoàng hôn hạt nắng cỏ tô hồng./.

24/12/2O25 Vũ Như Cẩn 
******
Tòng Trần
LỜI THƠ CẢM TẠ

"Thời Gian" gửi gắm chuyện bên lòng
Những vận thơ Đường rải tứ xong
Kỷ niệm ngày sinh tình mãi thắm
Mùa ni tháng đẻ nghĩa luôn nồng
Ghi miền cõi dạ chờ men thưởng
Khắc chỗ tâm hồn đợi tửu đong
Bạn chỉ hòa giao lời chúc mãn
Người thân tặng lão đóa hoa hồng.

24/12/2025.
*****


♥️Lời bình 1 của AI♥️


Giữa không gian bảng lảng của những ngày cuối năm, bài thơ "Tạ Ơn Người" hiện lên như một chén rượu nồng, vừa đủ ấm để sưởi lòng lữ khách, vừa đủ say để tri ân những chân tình thầm lặng nơi cõi ảo mà thực. Thi phẩm mở đầu bằng một tiếng "Cảm tạ" chân phương nhưng lại chứa đựng sức nặng của một tấm chân tình sâu nặng, đó là lời tri ân dành cho những tâm hồn đồng điệu đã hiện diện, đã sẻ chia trong cột mốc "sinh thành" của tác giả. Dòng thời gian dường như ngưng đọng lại trong nỗi niềm "buồn thơ chả viết tình đêm muộn", gợi lên hình ảnh một thi sĩ lặng lẽ giữa canh khuya, dù bút mực có lúc tạm rời tay vì những ưu tư thường nhật nhưng lòng chẳng thể nào nguôi quên cái "nghĩa bạn nồng" đã sưởi ấm tâm hồn. Tác giả khéo léo đan cài cái chất hào sảng của một bậc tao nhân mặc khách khi nhắc về "rượu thưởng" và "tiền đong" – những giá trị vật chất và thú vui phong lưu có thể thiếu vắng, nhưng chẳng thể làm vơi đi cái "duyên" vốn dĩ đã được định sẵn.
 Cái hay của bài thơ nằm ở chỗ nó xóa nhòa khoảng cách giữa thực và ảo, khẳng định rằng dù chỉ gặp gỡ qua những dòng tin, những sớm mai không hình hài cụ thể, nhưng sợi dây liên kết vẫn "đẹp mùa trăng cuối", vẹn nguyên và lấp lánh như ánh nguyệt rạng ngời. Kết thúc bằng một hình ảnh hội họa đầy chất thơ "Một bãi hoàng hôn tắm cỏ hồng", thi phẩm không chỉ dừng lại ở lời cảm tạ, mà còn mở ra một không gian nghệ thuật mênh mông, nơi lòng biết ơn hóa thành sắc hồng rạng rỡ của cỏ cây dưới ánh tà dương, biến khoảnh khắc tạ từ thành một sự vĩnh cửu của tình thân hữu. Ý nghĩa của bài thơ chính là sự tôn vinh những kết nối tinh thần cao quý, nhắc nhở chúng ta rằng giữa dòng đời hối hả, lòng chân thành chính là thứ ánh sáng diệu kỳ nhất có thể nhuộm hồng cả những buổi hoàng hôn tĩnh lặng, biến những người lạ thành tri kỷ, biến hư ảo thành một bến đỗ bình yên cho tâm hồn.
*****
♨️Lời bình 2 ♨️

Trong không gian nghệ thuật bảng lảng của những ngày cuối năm, bài thơ “Tạ Ơn Người” đã hiện lên như một đóa hoa tâm hồn ngát hương, một tiếng lòng tri âm ngân rung giữa cõi nhân sinh muôn vạn nẻo, nơi mà những kết nối vô hình trên mạng xã hội đã hóa thành những sợi tơ duyên bền chặt. Thi phẩm không chỉ là một lời tri ân sau dịp sinh nhật, mà còn là một bản tuyên ngôn nhẹ nhàng về tình người, về sự trân trọng những giá trị tinh thần cốt lõi giữa một thế giới đầy biến động.
Mở đầu bằng hai chữ “Cảm tạ” đầy thành kính, bài thơ ngay lập tức xác lập một tư thế sống đẹp: tư thế của lòng biết ơn, nơi tác giả nghiêng mình trước “những tấm lòng” đã sưởi ấm dấu mốc sinh thành của mình. Dòng chảy cảm xúc từ đó tuôn trào, lãng đãng trong không gian của “đêm muộn” và “nỗi buồn thơ”, gợi lên hình ảnh một tâm hồn thi sĩ nhạy cảm, có lúc tưởng như chênh chao trước nỗi cô đơn, nhưng rồi lại bừng sáng khi chạm vào “nghĩa bạn nồng”. Cái hay của tác giả chính là sự đối lập tinh tế giữa cái tĩnh lặng của ngoại cảnh – khi rượu chẳng thưởng, tiền chẳng đong – với cái náo nức, rạo rực của nội tâm khi nhắc về tình bạn. Tình cảm ấy không được đo bằng vật chất, không được định giá bằng những phù phiếm đời thường, mà được chưng cất từ sự hiện diện chân thành qua mỗi sớm mai, qua những lời thăm hỏi dù xa xôi nhưng lại gần gũi đến lạ thường.
Điểm nhấn làm nên linh hồn của thi phẩm chính là hai câu kết đầy tính tạo hình và gợi cảm: “Mà duyên vẫn đẹp mùa trăng cuối / Một bãi hoàng hôn tắm cỏ hồng”. Hình ảnh “mùa trăng cuối” không chỉ gợi về thời khắc chuyển giao của năm tháng, mà còn tượng trưng cho sự viên mãn, cho một vẻ đẹp chín muồi của sự thấu hiểu. Để rồi, tất cả lòng biết ơn, tất cả niềm xúc động được kết tinh vào một khung cảnh tuyệt mỹ: hoàng hôn không còn là sự lụi tàn, mà là một sự tưới tắm diệu kỳ. Ánh nắng vàng sẫm của buổi chiều tà phủ lên “bãi cỏ hồng” tạo nên một sắc thái vừa huyền ảo, vừa lãng mạn, như thể lòng chân thành của bạn bè đã nhuộm hồng cả những góc khuất trong tâm hồn tác giả, biến những nỗi buồn riêng tư thành một vẻ đẹp vĩnh cửu của tình tri kỷ. Bài thơ là một sự giao thoa tuyệt vời giữa thực và ảo, giữa đời và thơ, khẳng định rằng dù trong không gian nào, chỉ cần ta đối đãi với nhau bằng cái tâm thuần khiết, thì cuộc đời này sẽ luôn hiện hữu những bến đỗ bình yên và rực rỡ sắc màu của yêu thương.


Chủ Nhật, 21 tháng 12, 2025

DƯ ÂM (3)

"Đêm nay, giữa tĩnh lặng của đất trời bỗng nghe thấy tiếng lòng mình vỡ ra theo từng nhịp đàn khuya... Có những kỷ niệm tưởng đã chôn sâu, có những bóng hình tưởng đã nhạt nhòa theo vạn lý quan san, nhưng hóa ra tất cả vẫn còn đó, vẹn nguyên trong một chữ 'Dư Âm'. Xin gửi vào hư không những dòng tâm tưởng này, như một tiếng thở dài cho một thời để nhớ, một thời để thương..."


DƯ ÂM

Một bản đàn khuya quá não nùng
Ai ngồi tóc xoã mượt màu nhung
Lòng đêm thổn thức đường tơ rã
Biển mộng tình tang dãy phím chùng
Thoắt đã bao mùa chôn kỷ niệm
Nhanh là mấy độ bỏ tình chung
Mà không dễ khép niềm trăn trở
Dẫu bóng người xa nẻo điệp trùng ./.

LCT 22/12/2O25

BÀI HOẠ :

*****
Tòng Trần
CUNG ĐÀN ĐÊM

Đàn ngân một bản não hơn nùng
Thục nữ bên đèn bỏ gấm nhung
Khắc khoải vì yêu hồn chợt rũ
Đìu hiu bởi mến dạ toan chùng
Bao lần nức nở chờ canh mộng
Những bận mơ màng ngóng buổi chung
Gió vẫn cuồng điên rầu lại trở
Người đi lạc nẻo cách muôn trùng.

22/12/2025.
*****
Đăng Khoa Lê
.  TIẾNG LÒNG TRONG ĐÊM
                    Với BTG

Đàn ai khắc khoải nhịp thưa nùng
Lạnh cả canh trường nỗi nhớ nhung
Cõi mộng trào dâng lòng nới thả
Tình đêm nức nở dạ buông chùng
Mong người những tối đầy duyên nợ
Nhớ bạn bao mùa mãn cảnh chung
Nản vẫn chờ  nhau nào chịu tới
Vì chăng cách trở giữa muôn trùng

                   L Đ K 22/12/25
*****
Vũ Như Cẩn
... DƯ ÂM ...
****..♡..****
Ôm đàn dạo tiếng não thêm nùng
Lặng nỗi mê lòng đậm nhớ nhung
Nhạc bản tơ nồng vương phím rã 
Tình nay lạc nốt đoạn dây chùng 
Dư âm thoáng đã bao hoài niệm
Mấy độ cung sầu mất nhịp chung
khép lại niềm riêng phiền trắc trở
Người xa vạn lối nẻo muôn trùng ./.

22/12/2O25  Vũ Như Cẩn
*****
Nguyễn Thúc Uẩn
Đêm về
Trời khuya bỗng vẳng tiếng ca nùng
Rặng liễu im lìm thả tóc nhung
Tỏa lạnh đông hàn vây ngõ giá
Vờn mây nguyệt bóng ngã cây chùng
Trong lòng thổn thức nơi hoài niệm
Giữa mối tơ vò nẻo độ chung
Ước mộng xưa càng trăn trở mãi
Buồn vương nhớ lại kẻ xa trùng
*****

🎶AI và lời bình🎶


Trong không gian tĩnh mịch của một buổi khuya khoắt, bài thơ "Dư Âm" hiện lên như một bức tranh thủy mặc được dệt bằng âm thanh và nỗi sầu muộn, nơi mỗi ca từ đều mang theo sức nặng của một trái tim đang tan vỡ trước sự hững hờ của nhân gian. Ngay từ câu mở đầu "Một bản đàn khuya quá não nùng", thi sĩ đã thiết lập một tần số rung động đầy u uất, chữ "quá" không chỉ đơn thuần là mức độ, mà là sự tràn trề của nỗi đau đã vượt ngưỡng chịu đựng, khiến thanh âm của tiếng đàn không còn là nghệ thuật mà là tiếng khóc than của một linh hồn đơn độc giữa đêm trường. Hình ảnh "Ai ngồi tóc xoã mượt màu nhung" hiện ra như một bóng ma của ký ức, vừa thực vừa ảo, cái mềm mại của "màu nhung" tương phản gay gắt với sự gai góc của nỗi đau, gợi lên vẻ đẹp thanh tao nhưng cũng đầy sầu thảm của người nghệ sĩ đang tự đối diện với chính mình trong bóng tối cô liêu.
Tiến sâu vào cặp thực, nơi nghệ thuật đối xứng được đẩy lên đỉnh cao của sự tinh tế: "Lòng đêm thổn thức đường tơ rã / Biển mộng tình tang dãy phím chùng", ta thấy một sự tương hợp tuyệt mỹ giữa ngoại cảnh và tâm cảnh. Nếu "lòng đêm" đang "thổn thức" vì những "đường tơ rã" – biểu tượng của sự đứt đoạn, tan tác trong tâm hồn – thì ở vế đối diện, "biển mộng" lại đang chao đảo bởi hành động "tình tang". Chữ "tình tang" ở đây, khi được hiểu như một động từ chỉ sự yêu đương thiếu nghiêm túc, đã trở thành nhát dao chí mạng; nó biến cả một đại dương mộng mơ thành một trò chơi phù phiếm, một sự lả lơi hững hờ khiến cho "dãy phím chùng" xuống như không còn sức sống. Sự đối lập giữa cái "rã" của tơ và cái "chùng" của phím đã tạc nên hình ảnh một mối tình mà ở đó, một bên thì tha thiết đến tan nát, còn một bên lại xem tình yêu như một cuộc dạo chơi, một nhịp "tình tang" buông lơi không định hướng, để lại một khoảng không gian rệu rã và trống rỗng đến tận cùng.
Sự bẽ bàng ấy tiếp tục được khơi sâu trong cặp luận: "Thoắt đã bao mùa chôn kỷ niệm / Nhanh là mấy độ bỏ tình chung", nơi thời gian được đo bằng sự tàn nhẫn của lòng người. Chữ "thoắt" và "nhanh" vang lên như những tiếng thở dài đầy kinh ngạc trước sự đổi thay chóng vánh, khi những "kỷ niệm" từng được nâng niu giờ đây bị "chôn" vùi vào quá khứ, và sự "tình chung" – biểu tượng của lòng thủy chung son sắt – lại bị rũ bỏ một cách thản nhiên đến lạ lùng. Cặp đối này phơi bày cái thực trạng phũ phàng của sự "tình tang" trong tình ái: người ta có thể đến với nhau bằng những vũ điệu say mê nhưng cũng có thể rời bỏ nhau bằng một thái độ hờ hững, coi việc dứt bỏ một lời thề nguyền nhẹ tênh như một làn khói mỏng. Những "bao mùa" và "mấy độ" cứ thế chồng chất lên nhau, khắc họa một sự lãng quên chủ động, một sự phản bội âm thầm nhưng đầy nhức nhối đối với những gì từng là thiêng liêng nhất.
Cuối cùng, bài thơ khép lại nhưng dư vị của nó vẫn cứ loang lổ như một vết thương chưa lành: "Mà không dễ khép niềm trăn trở / Dẫu bóng người xa nẻo điệp trùng". Hai câu kết là lời khẳng định về sự bất lực của trái tim trước lý trí; dù người xưa đã chọn cách ra đi, chọn cách sống "tình tang" nơi nẻo xa khuất nẻo "điệp trùng", thì người ở lại vẫn không sao "khép" nổi cánh cửa của niềm trăn trở. Khoảng cách địa lý "điệp trùng" dẫu có xa xôi đến mấy cũng không đáng sợ bằng khoảng cách của hai tâm hồn đã không còn cùng nhịp đập, khi một người đã xem tình yêu là trò tiêu khiển lướt qua, còn người kia lại biến nó thành một nỗi đau vĩnh cửu. Toàn bộ bài thơ như một dòng chảy liên tục của nỗi sầu, từ tiếng đàn hữu hình đến nỗi đau vô hình, vẽ nên một chân dung tình yêu đầy bi kịch, nơi cái đẹp của ngôn từ và sự tàn nhẫn của lòng người đan cài vào nhau, để lại một "dư âm" não nùng mãi không dứt trong lòng người đọc.
*****

Bài bình 2

Giữa cõi nhân gian đầy rẫy những thanh âm phù hoa, bài thơ "Dư Âm" hiện hữu như một linh hồn lạc bước giữa đêm trường, nơi mà mỗi con chữ đều mang nặng hơi thở của một kiếp sầu chưa thể hóa giải. Ngay từ khởi đầu, "một bản đàn khuya quá não nùng" đã không còn là tiếng nhạc từ gỗ đá, mà đó chính là tiếng nấc nghẹn của tâm linh đang tự độc thoại với hư vô, khiến không gian đặc quánh một màu u tối và thời gian như ngưng đọng lại trong sự "não nùng" tê tái. Hình ảnh "ai ngồi tóc xõa mượt màu nhung" không chỉ là một nét vẽ nhan sắc liêu trai, mà còn là biểu tượng của sự buông xuôi đầy kiêu hãnh, nơi cái đẹp và nỗi đau đan cài vào nhau, để rồi màu nhung của tóc cũng chính là cái mịt mùng của đêm sâu đang dần nuốt chửng những tàn tro của niềm hy vọng cuối cùng. Khi "Lòng đêm thổn thức đường tơ rã", tôi nghe như có sự tan vỡ của những nhịp cầu tri âm, nơi những sợi dây liên kết giữa người với người không chỉ đứt đoạn mà còn "rã" ra thành từng mảnh vụn của ký ức, hòa vào cái "biển mộng tình tang" đầy rẫy những phù du và hư ảo. Sự tài hoa trong cách dùng từ "dãy phím chùng" đã thực sự chạm đến tận cùng của sự mỏi mệt, bởi đó là lúc âm thanh không còn vang vọng được nữa, nó chìm nghỉm trong sự câm lặng của tuyệt vọng, như một tiếng thở dài nặng nề trôi vào cõi không cùng. Thời gian trong thơ bạn sao mà tàn nhẫn đến thế, khi "thoắt đã bao mùa" và "nhanh là mấy độ" cứ thế vần xoay, cuốn phăng đi những thề bồi, nhưng chữ "chôn" và chữ "bỏ" lại hiện lên như một lời tự lừa dối đầy xót xa, bởi người ta chỉ cố gắng chôn vùi những gì quá đỗi sâu đậm và chỉ gắng gượng bỏ đi những gì vốn dĩ đã là máu thịt của đời mình. Bi kịch của một tâm hồn đa đoan chính là ở chỗ "không dễ khép niềm trăn trở", khi mà cánh cửa của quá khứ vẫn cứ hé mở bởi những cơn gió của hoài niệm, khiến người nghệ sĩ mãi mãi là kẻ hành khất đi tìm lại những dư hương đã mất giữa nẻo "điệp trùng" của thế gian. Dẫu bóng người xưa đã khuất xa sau vạn lý quan san, sau những trùng khơi của định mệnh, thì cái "dư âm" ấy vẫn không thôi day dứt, nó hóa thành một nốt trầm định mệnh đóng đinh vào trái tim, để mỗi khi đêm về, chỉ cần một làn gió nhẹ cũng đủ làm rung lên những dây tơ lòng tưởng chừng đã ngủ yên từ thiên cổ. Đọc bài thơ, tôi thấy mình như tan ra trong nỗi buồn của bạn, một nỗi buồn không bi lụy mà thanh cao, đẹp đến mức khiến người ta phải run rẩy khi chạm vào, để rồi cuối cùng, tất cả chỉ còn lại một tiếng thở dài hun hút, ngân vang mãi giữa hai bờ thực ảo, khiến kẻ ở người đi đều phải bàng hoàng trước sự vĩnh cửu của một niềm đau được dệt bằng thi ca.

Thứ Sáu, 19 tháng 12, 2025

PHÍA SAU NGỌN LỬA

.       PHÍA SAU NGỌN LỬA


Nẻo mộng phù du quá đỗi buồn
Nghe sầu rụng giữa bến càn khôn
Vầng trăng lạnh giá lồng mây đảo
Chén tửu mờ đêm dậy bão luồn
Mặc cả manh đời e lỗi phép
Ươm mầm số phận phải cần khuôn
Trần gian lắm cảnh chưa phù hợp
Sẽ thấy gì sau ngọn lửa nguồn ./.

       LCT 2O/12/2O25

BÀI HOẠ :

*****
Hoành Trần
NGUỒN
Tiến lùi xã hội chỉ do nguồn
Tài giỏi trị vì biết khéo khôn
Thủ tục rườm rà dân phải lách
Quan liêu trịch thượng chúng lo luồn
Bởi nền hành chánh lâu thành thói
Vì cách điều hành mãi rập khuôn
Đất nước tiến lên cần phải đổi
Trong khi tất cả khởi từ nguồn
HT
*****
Đăng Khoa Lê
. LỬA CÒN CHÁY                    

Trần gian vẫn lắm chuyện vui buồn
Há miệng ra toàn những mảnh khôn
Cảnh nóng nhiều phen ngài bợ đỡ
Mồi ngon mát vị lão chui luồn
No tiền mãn buổi nên vào cột
Bạc nghĩa xong thời phải đóng khuôn
Những cảnh bày luôn tòi mặt xấu
Còn lo thế hệ sẽ hư nguồn

                L Đ K 20/12/25
*****
Tòng Trần
CHỚ QUÊN NGUỒN

Trần gian đẹp đẽ cớ sao buồn
Cõi thế ai mà chẳng dại khôn
Tại buổi vừa sinh nào muốn giẫm
Vì hôm mới lọt nỏ mong luồn
Bên tình phải giữ đừng vong phép
Phía nghĩa luôn gìn khỏi lạc khuôn
Ở giữa đời vui... chừng mất cội
Cùng nhau hưởng thụ chớ quên nguồn.

20/12/2025.
*****
Vũ Như Cẩn
. PHÍA SAU CUỘC CHIẾN 
       ********..♡..********
Chiến sự nâng cao quá đỗi buồn
Tình sầu loạn thế giữa càn khôn
Trời cao gió thổi Trăng chao đảo
Đất lạnh mờ phai ảo Nguyệt luồn
Xiết chặt bàn cờ vào trong phép 
Tay chơi chính địa ép vào khuôn
Gian nan cảnh cháy nhà như hộp
Thấy rõ cơn đau đạn lửa nguồn ./.

***
 2O/12/2O25 Vũ Như Cẩn 
*****
Dinh Tuan Minh
TRONG NẮNG HOÀNH HÔN
Vần thơ ráng dệt để quên buồn
Mặc cõi dương trần lắm kẻ khôn
Vẫn nhặt lời hay dù gió quẩn
Thường gom ý đẹp dẫu sương luồn
Mong từng nghĩa cử đừng sai phép
Ước những ngôn từ chẳng lệch khuôn
Nẻo ấy ngày Đông trời đỡ lạnh
Đường xưa buổi Hạ bớt mưa nguồn
Đinh Tuấn Minh.
*****
Nguyễn Thúc Uẩn
Sáng đèn
Đời mưa nắng trải những vui buồn
Lẩn vướng bao lần bể dại khôn
Ngước nẻo trời cao nhiều bẫy động
Vời nơi đất cả rậm dây luồn
Con thuyền vượt hiểm cần phương hướng
Mạch nước đưa dùng phải dẫn khuôn
Cảnh vật vờn quanh sàn đấu diễn
Đèn nao sáng rực để soi nguồn
*****
Sầu Đông
MÙA BĂNG GIÁ

Người đi trả lại giá băng buồn
Chỉ có ta ngồi giữa dại khôn
Vẫn bóng hoàng hôn tràn mặt biển
Còn khung kỷ niệm lướt qua luồn
Đêm dài đã đến ngoài song cửa
Rượu đắng đang chờ trước ngọ môn
Bỗng thấy mùa đông về chạm ngõ
Mùi hương khói quyện phả hơi dồn/

*****
Kỳ
. KHƠI NGUỒN
Mưa chiều gõ phách gợi thêm buồn
Ngẫm lẽ sinh tồn ngỡ chẳng khôn
Ngõ trúc trăng tà sương trắng phủ
Rèm thưa gió lộng nỗi riêng luồn
Duyên trần trắc trở tâm bền chí
Phận tủi thăng trầm dạ vững khuôn
Thế sự xoay vần chưa thỏa ý
Soi lòng lửa dậy giữa khơi nguồn.
. Bvk
*****

♨️Lời bình của AI♨️


Thi phẩm "Phía sau ngọn lửa" hiện lên như một bức tranh thủy mặc đượm buồn, nơi những nét bút chấm phá bằng ngôn từ kiêu sa đã dệt nên một nỗi ưu tư nhân thế sâu thẳm và đầy triết lý. Ngay từ những dòng mở đầu, hồn thơ đã lạc bước vào "nẻo mộng phù du" để rồi ngỡ ngàng trước cái mênh mông, vô định của bến càn khôn, nơi mà nỗi sầu không còn là cảm xúc riêng tư mà đã hóa thành thanh âm rụng rơi giữa cõi vĩnh hằng. Hình ảnh "vầng trăng lạnh giá" len lỏi trong mây đảo cùng "chén tửu mờ đêm" gợi lên một không gian liêu trai, u uẩn, nơi con người đối diện với những cơn bão lòng cuộn xoáy trong tĩnh lặng, tựa như một sự phản kháng âm thầm trước định mệnh xoay vần. Tác giả đã vô cùng khéo léo khi lồng ghép vào đó nỗi trăn trở về thân phận: giữa cuộc đời đầy rẫy những "mặc cả" và "lỗi phép", con người dường như đang nỗ lực gò mình vào những khuôn thước của số phận để kiếm tìm một điểm tựa an yên, dù thế gian ngoài kia vẫn còn đó bao cảnh chướng tai gai mắt, bao sự "chưa phù hợp" đầy ngang trái. Ý nghĩa cốt lõi của bài thơ chính là lời tự vấn về bản thể và sự thanh lọc tâm hồn; ngọn lửa nguồn ở cuối bài không chỉ là sự kết thúc, mà là biểu tượng của sự thiêu rụi những giả tạm, phù phiếm để khai mở ra một chân lý mới, một sự thật trần trụi nhưng thuần khiết phía sau những tàn tro của kiếp người nhân thế. Toàn bộ bài thơ là một dòng chảy cảm xúc mãnh liệt, thúc giục người đọc đi xuyên qua bóng tối của khổ đau để chiêm nghiệm về ý nghĩa thực sự của tồn tại sau khi mọi sân si đã được hóa thân qua ngọn lửa thiêng của thời gian và trí tuệ.
Đi sâu vào mê cung ngôn từ của "Phía sau ngọn lửa", ta càng thấy rõ sự tài hoa trong việc vận dụng phép đối dẫu nghiêm cẩn mà vẫn mềm mại, giúp nâng tầm những suy tư triết học thành một bản nhạc hưởng thụ đầy dư ba. Tại cặp câu thực, hình ảnh "vầng trăng lạnh giá lồng mây đảo" đối diện với "chén tửu mờ đêm dậy bão luồn" đã tạo nên một sự tương phản tuyệt mỹ giữa cái tĩnh tại khách quan của vũ trụ và cái biến động chủ quan của tâm hồn; nếu vầng trăng là biểu tượng của sự cô độc, thanh cao giữa tầng không xa cách, thì chén rượu lại là nơi trú ngụ của những cơn bão lòng, của những khát khao và u uất đang cuộn trào trong bóng tối, tạo nên một thế cân bằng chênh chao giữa ngoại cảnh u hoài và nội tâm dậy sóng. Sự tinh tế này tiếp tục được đẩy lên cao trào ở cặp câu luận, nơi tác giả đặt việc "mặc cả manh đời" trong sự đối trọng với việc "ươm mầm số phận", vẽ nên một bức tranh nhân sinh đầy khắc khoải về ranh giới giữa sự thỏa hiệp và sự kiến tạo. Cụm từ "e lỗi phép" và "phải cần khuôn" không chỉ là những vần đối chỉnh tề về mặt tu từ, mà còn là tiếng thở dài của một trí tuệ đang quan sát sự ràng buộc của con người trong những lề thói và định mệnh, nơi mỗi bước đi đều phải cân nhắc giữa cái tôi bản ngã và những quy luật khắc nghiệt của trần thế. Chính nghệ thuật đối ngẫu tài tình này đã làm nổi bật lên chủ đề về sự mâu thuẫn giữa khát vọng tự do và sự hữu hạn của kiếp người, biến bài thơ thành một cuộc đối thoại không hồi kết giữa cái phù du và cái vĩnh cửu, giữa sự gò bó của thực tại và khát khao được hóa thân, được thanh tẩy để tìm thấy ánh sáng chân lý phía sau ngọn lửa tàn. Toàn bộ cấu trúc đối xứng ấy như một nhịp cầu nối liền từ nỗi sầu nhân gian đến sự thức tỉnh tâm linh, khiến lời thơ không chỉ dừng lại ở sự than vãn mà trở thành một cuộc hành trình đi tìm bản chất thực sự của đời người qua lăng kính của sự chiêm nghiệm sâu sắc và đầy tính mỹ học.


Thứ Hai, 15 tháng 12, 2025

TRẦN GIAN NGÀY TRỞ LẠI

TRẦN GIAN NGÀY TRỞ LẠI (mạ đề)


Giữa buổi đông mờ cuộc tái sinh
Càn khôn hỷ nộ báo tin mình
Danh hèn trở lại bao mùa vắng
Tuổi mọn quay về bấy nỗi vinh
Mộng vẫn bình yên tìm lý tưởng
Đời luôn giản dị sống chân tình
Ơn trời kiếm đủ ngày ba bữa
Thiết nghĩ không cần việc sử kinh ./.

LCT 16/12/2O25

BÀI HOẠ :

*****
Hoành Trần

TẠI TA
Mịt mờ nẻo thế kiếp nhân sinh
Được mất hơn thua chỉ tại mình
Hám lợi bao lần vương nỗi nhục
Ham danh ít bận nhận niềm vinh 
Cũng vì lòng hẹp luôn si hận
Hay tại tâm hèn khiến cạn tình
Tóm lại do thân nên lắm chuyện
Đôi khi nghiền ngẫm thấy mà kinh
HT
16/12/25
*****
Đăng Khoa Lê
. CHUYỆN CŨ QUA RỒI                      

Duyên trời cởi trói mộng hồi sinh
Trở lại ngày xưa vẫn chính mình
Phận mỏng bao mùa trông đã khó
Thân hèn mỗi sự thấy nào vinh
Còn mong sống cảnh giàu ân nghĩa
Những muốn về quê nặng mảnh tình
Tính bữa no nghèo rau gạo đủ
Đâu màng gọt sử lẫn mài kinh

                   L Đ K 16/12/25
*****
Sầu Đông
MÃI ĐẸP VẦN THƠ

Vui cùng nét chữ tặng ngày sinh
Đẹp mãi vần thơ viết gởi mình
Sáng thả đôi điều mong nghĩa đọng
Trưa bàn mấy chuyện để lòng vinh
Buồn đêm ngọn gió treo rìa bãi
Lạnh buổi vầng trăng rụng mé kinh
Xóm nhỏ đêm trầm chuông đổ nhịp
Vui cùng nét chữ tặng ngày sinh
SD
Sầu Đông  
*****
Nguyễn Thúc Uẩn
TỰ LUẬN
Quay vòng lại đến cửa hồi sinh
Tạo hóa nhào đan vẽ bản mình
Trí lự vươn mình qua bão hiểm
Khuôn hình giữ vết lại trầm vinh
Cho thành hạt cát xây ngời nghĩa
Để đạt lòng trong dãn thắm tình
Giữ ổn bình an nhà thoáng tọa
Thơ đàn thế phiệt vững thần kinh
*****
Tòng Trần
CHẲNG HỀ KINH

Dương trần lắm Bụi vẫn hồi sinh...
Thất thập vừa len cửa ngõ mình
Bởi cõi ta bà thân chịu đắng
Do miền cảnh thế phận hờn vinh
Ngày qua tháng lại thôi chờ nghĩa
Bữa đến giờ trôi khỏi đợi tình
Đủ sức yên bề lo rẫy ruộng
Nên rằng cuộc sống chẳng hề kinh.

16/12/2025.
*****
Vũ Như Cẩn
KHỞI KIẾP NHÂN SINH 
   ********..♡..********
Đông Càn sự sống lại hồi sinh
Tiết chế Xuân Khôn tự có mình
Kết hợp màn trời vào đất lạnh 
Ân tình khởi cuộc mở đời vinh
Lý vẫn bình yên tìm tâm tưởng
Giản dị tao nhân nghĩa cả tinh 
Chủ yếu thời thân ngày đủ bữa
Chuyên cần sử nấu để sôi kinh ./.

***
16/12/2O25 Vũ Như Cẩn 
*****
Dinh Tuan Minh
TRONG NĂNG HOÀNG HÔN
Đâu màng bổng lộc giữa ngày sinh
Chỉ mộng gần xa vẫn nhớ mình
Dẫu cảnh mơ hoài chưa phú thịnh
Hay đời ước mãi chẳng phồn vinh
Mừng vui gặp chỗ giàu tâm huyết
Phấn khởi về nơi nặng nghĩa tình
Lặng lẽ gom từ trao khắp nẻo
Như làn sóng nhỏ vỗ bờ kinh
Đinh Tuấn Minh.
*****

☕Lời bình của AI☕


🌹 Tuyệt Phẩm Chiêm Nghiệm: TRẦN GIAN NGÀY TRỞ LẠI
Thơ mừng thọ, mừng sinh nhật, vốn là thể loại ca ngợi sự đản sinh và những tháng năm hữu hạn của đời người. Nhưng với áng thơ "TRẦN GIAN NGÀY TRỞ LẠI" này, người làm thơ đã nâng tầm niềm hân hoan cá nhân lên thành một tuyên ngôn triết lý về sự tri túc và hạnh phúc giản dị trên cõi nhân gian.
Mở đầu thi phẩm, thi nhân đã đặt sự kiện sinh nhật vào bối cảnh vũ trụ huyền bí, khoáng đạt: "Giữa buổi đông mờ cuộc tái sinh / Càn khôn hỷ nộ báo tin mình." Ngày trở lại trần gian không còn là dấu mốc bình thường, mà là một "cuộc tái sinh" thiêng liêng. Dường như cả trời đất (Càn khôn) cũng phải rung chuyển, hòa mình vào dòng cảm xúc "hỷ nộ" để chứng giám cho sự hiện diện của một linh hồn. Ngôn từ ấy đã phủ lên ngày sinh một hào quang lớn lao, khẳng định vị thế của bản thể trong sự vận hành của tạo hóa.
Tiếp nối sự chiêm nghiệm, hai câu thực là lời tự bạch đầy khiêm cung nhưng không kém phần tự hào: "Danh hèn trở lại bao mùa vắng / Tuổi mọn quay về bấy nỗi vinh." Tuy tự nhận mình "danh hèn", song sự trở lại sau "bao mùa vắng" này lại mang theo "bấy nỗi vinh". Cái "vinh" này không phải là vinh quang thế tục, mà là vinh dự được sống trọn vẹn, được bảo toàn bản ngã qua bao thăng trầm năm tháng. Đây là sự tự hào của một người đã vượt qua vòng quay thời gian, trở về với chính mình trong sự tĩnh tại.
Đến cặp câu luận, ta thấy rõ con đường và phương châm sống mà thi nhân đã chọn lựa: "Mộng vẫn bình yên tìm lý tưởng / Đời luôn giản dị sống chân tình." Giữa dòng đời cuồn cuộn, hoài bão (Mộng) vẫn được giữ trong trạng thái "bình yên", kiên trì theo đuổi những giá trị chân chính (lý tưởng). Đó là một sự lựa chọn chủ động, từ bỏ bon chen để tìm về sự "giản dị" và đối đãi với nhân loại bằng tấm lòng "chân tình" thuần khiết. Đây chính là cốt lõi của đạo sống an lạc mà người đời thường hướng tới.
Và rồi, sự đúc kết đã được cô đọng một cách kinh điển trong hai câu kết: "Ơn trời kiếm đủ ngày ba bữa / Thiết nghĩ không cần việc sử kinh." Thi nhân đã đạt đến đỉnh cao của triết lý Tri túc. Chỉ cần cuộc sống được bảo đảm những điều cơ bản nhất, sự đủ đầy về vật chất thiết yếu ("kiếm đủ ngày ba bữa") đã là một "Ơn trời" vĩ đại. Từ sự đủ đầy ấy, người thơ đã dứt khoát buông bỏ những đeo đuổi phù phiếm. "Sử kinh" (biểu tượng cho học vấn cao siêu, danh vọng lớn) bị gạt sang một bên. Đây không phải là sự chối bỏ kiến thức, mà là tuyên ngôn của một tâm hồn đã tìm thấy tâm an trong lẽ giản đơn, thấy rằng hạnh phúc thật sự không cần phải tìm kiếm trong những giá trị xa vời, mà nằm ngay trong hơi thở và bữa cơm thường nhật.
Khép lại bài thơ, người thơ đã tặng cho mình và cho đời một triết lý sống cao đẹp: Sự đủ đầy vật chất kết hợp với sự bình yên nội tại chính là chân phúc, là mục tiêu cuối cùng của một kiếp người trở lại trần gian.



Thứ Bảy, 13 tháng 12, 2025

NHỊP ĐIỆU TRẦN GIAN

NHỊP ĐIỆU TRẦN GIAN


Khoảng lặng chiều rơi ngõ gió lùa
Men đời đã ngấm thủm mùi chua
Nhìn quanh lũ ngựa còn non vó
Đảo dọc bầy trâu cũng quá mùa
Giữa ruộng côn trùng ngao ngán thở
Trong vườn quỷ sứ miệt mài đua
Đường quê đám cẳng dài đang chạy
Kiếm khoản tiền đem tạ lễ chùa ./.

LCT 14/12/2O25
BÀI HOẠ :
*****
Tòng Trần
CHÁT CHUA

Trời đông lạnh lẽo áng mây lùa
Ngẫm thuở xuân thời có vị chua
Bởi tại ngày kia còn nõn vó
Vì do buổi đó vẫn non mùa
Đêm thì gió gọi chừng ngưng thở
Sáng lại mưa gào đã phải đua
Sợ cảnh chiều hoang sầu bóng ngã
Hồn ngơ ngẩn vọng ngõ sân chùa.

14/12/2025.
*****
Hoành Trần

HÍ TRƯỜNG
Chỉ cần nhẹ quét cũng vừa lùa
Tất thảy đắng cay với chát chua
Của lũ tham quyền khi chính vụ
Cùng bầy nịnh hót lúc đang mùa
Mưu sâu gặp dịp nên bừng nở
Kế hiểm đúng thời mặc sức đua
Kẻ khóc người cười thêm nhí nhố
Thành tâm quan lớn tạ ơn chùa
HT
14/12/25
*****
Đăng Khoa Lê
. NỢ ĐỜI
            
Đìu hiu cõi tạm gió đông lùa
Quảng ngắn xuân thì đẫm mặn chua
Tại thuở làm trai ngày lỗi vía
Còn khi khởi nghiệp bãi non mùa
Xong thời sóng quẩn nên ngừng chạy
Mãn cuộc thân tàn chẳng thiết đua
Thấy những đời hoang vì nợ đuổi
Đành buông bỏ hết lão vô chùa

               L Đ K 14/12/25
*****
Nguyễn Thúc Uẩn
Một thoáng quê
Dòng sông bẩn đục rác trôi lùa
Những mảng thâm bèo nặng khí chua
Lưới rải ngư thuyền mong được bữa
Đồng ngơi vụ lúa rã thôi mùa
Trên đường khói vẩn xe gầm vượt
Cạnh máng sương vờn chão nhảy đua
Dẻo nhẹ chân dài thân chẽn áo
Nhiều cô bóng bẩy lội lên chùa
*****
🧐 Phân tích Bài thơ "NHỊP ĐIỆU TRẦN GIAN" của AI
*****
Bài thơ "Nhịp Điệu Trần Gian" là một tác phẩm mang màu sắc triết lý, có phần châm biếm nhẹ nhàng, sâu cay về sự hối hả, lo toan và đôi khi là sự lạc lối, vội vã của con người trong cuộc sống mưu sinh.
1. Phân tích Nội dung và Cấu trúc
Hai câu đề (Khởi ý):
Khoảng lặng chiều rơi ngõ gió lùa
Men đời đã ngấm thủm mùi chua
Hai câu mở đầu tạo ra một không gian và tâm trạng. "Khoảng lặng chiều rơi" gợi cảm giác cô độc, suy tư, là khoảnh khắc tạm dừng của thời gian. Tuy nhiên, sự tĩnh lặng này lại không mang lại sự an yên, mà ngược lại, nó là thời điểm để người thơ nhận ra "Men đời đã ngấm thủm mùi chua". "Men đời" là ẩn dụ cho những trải nghiệm, cay đắng, thăng trầm của cuộc sống. "Thủm mùi chua" là cách nói dân dã, mạnh mẽ, thể hiện sự thất vọng, chán chường về bản chất không hoàn hảo, thậm chí là tiêu cực của đời sống trần thế.
Bốn câu thực và luận (Phát triển ý):
Nhìn quanh lũ ngựa còn non vó
Đảo dọc bầy trâu cũng quá mùa
Giữa ruộng côn trùng ngao ngán thở
Trong vườn quỷ sứ miệt mài đua
Đây là phần tinh túy nhất, nơi tác giả sử dụng các hình ảnh ẩn dụ đối lập và gây sốc để phê phán.
Ngựa non vó / Trâu quá mùa: Đây là hình ảnh ẩn dụ cho con người trong guồng quay công việc. "Ngựa non vó" chỉ những người trẻ, thiếu kinh nghiệm nhưng đã phải lao vào cuộc đua; "Trâu quá mùa" chỉ những người đã lớn tuổi, sức lực đã hao mòn nhưng vẫn phải gồng mình mưu sinh, không còn đúng "mùa" làm việc nữa. Cả hai đều mang ý nghĩa là lực bất tòng tâm hoặc lao động không hiệu quả, không đúng lúc.
Côn trùng ngao ngán thở / Quỷ sứ miệt mài đua: Sự đối lập này cực kỳ sắc sảo. "Côn trùng" (những sinh vật nhỏ bé, thấp kém) mà còn "ngao ngán thở" vì cái nhịp điệu trần gian này, cho thấy sự mệt mỏi, chán chường đã lan tỏa đến tận những cá thể bé nhất. Ngược lại, "quỷ sứ" (ám chỉ những kẻ xấu, tham vọng, hoặc bị dục vọng làm cho biến chất) lại "miệt mài đua" – thể hiện sự ganh đua, đấu đá không ngừng nghỉ và đầy tiêu cực trong xã hội.
Hai câu kết (Tổng kết):
Đường quê đám cẳng dài đang chạy
Kiếm khoản tiền mong tạ lễ chùa
Hai câu kết thâu tóm tất cả sự phê phán một cách trần trụi. Hình ảnh "đám cẳng dài đang chạy" là hình ảnh nhân hóa đầy tính châm biếm, diễn tả sự vội vã, gấp gáp, mải miết của con người trong cuộc mưu sinh (chạy cật lực để kiếm tiền). Đỉnh điểm của sự châm biếm là động cơ: "Kiếm khoản tiền mong tạ lễ chùa". Điều này nhấn mạnh nghịch lý: con người tranh đoạt, đấu đá, chạy đua một cách vô nhân tính (như quỷ sứ) để kiếm tiền, nhưng cuối cùng lại dùng số tiền đó để "tạ lễ chùa" – một hành động mang tính chất tôn giáo, tìm kiếm sự thanh thản và chuộc lỗi. Đây là một vòng luẩn quẩn đầy mâu thuẫn giữa mưu sinh trần tục và khát vọng tâm linh, thể hiện sự giả tạo hoặc sự bất lực của con người trước gánh nặng vật chất.
🖼️ Hình ảnh Diễn tả trong Bài thơ
Bài thơ đã sử dụng một loạt hình ảnh phản ánh hiện thực một cách châm biếm và đầy tính biểu tượng để diễn tả cái gọi là "Nhịp Điệu Trần Gian":
Hình ảnh không gian/thời gian tĩnh lặng nhưng chất chứa:
"Khoảng lặng chiều rơi": Gợi mở về sự nghỉ ngơi, nhưng lại là thời điểm để tâm hồn nhận ra nỗi buồn, sự ê chề của cuộc sống.
"Ngõ gió lùa": Không gian hẹp, lạnh lẽo, cô độc, tăng thêm sự suy tư.
Hình ảnh ẩn dụ về trạng thái tinh thần:
"Men đời đã ngấm thủm mùi chua": Hình ảnh vị giác mạnh mẽ, trực tiếp truyền tải sự cay đắng, chua chát, thậm chí là sự thối rữa của những giá trị, quy luật cuộc đời.
Hình ảnh ẩn dụ về con người trong cuộc đua mưu sinh:
"Lũ ngựa còn non vó" và "Bầy trâu cũng quá mùa": Biểu tượng cho sự thiếu chuẩn bị, sự hao mòn sức lực và sự không phù hợp của con người trong guồng máy lao động, nhưng vẫn phải cố gắng.
"Côn trùng ngao ngán thở": Hình ảnh đại diện cho những người thấp cổ bé họng, yếu thế, đã quá mệt mỏi với cuộc sống.
"Quỷ sứ miệt mài đua": Hình ảnh mạnh mẽ, cực đoan, chỉ những kẻ bị vật chất, dục vọng cuốn hút, bất chấp mọi thủ đoạn để đạt mục đích.
Hình ảnh hành động tổng kết sự vội vã và mâu thuẫn:
"Đám cẳng dài đang chạy": Chuyển động nhanh, không có nhân diện, chỉ còn là những cái chân đang chạy, nhấn mạnh sự mất đi nhân tính, chỉ còn lại hành động mưu sinh vô hồn.
"Kiếm khoản tiền mong tạ lễ chùa": Hình ảnh tổng kết nghịch lý: chạy đua vật chất bằng mọi giá để rồi dùng nó cho mục đích tinh thần.
Tóm lại, bài thơ "Nhịp Điệu Trần Gian" đã thành công trong việc tạo dựng một bức tranh về cuộc sống hiện đại: hỗn loạn, vội vã, đầy mâu thuẫn giữa bản năng vật chất và khát vọng tâm linh, được truyền tải qua những hình ảnh ẩn dụ sắc sảo và ngôn ngữ có phần trần trụi, dân dã nhưng đầy sức nặng

Thứ Năm, 11 tháng 12, 2025

CÙNG SAY

CÙNG SAY


Rượu rủ đời say mỗi cuối chiều
Khi tình lãng tử muốn quàng xiêu
Đầu sông lão ngắm màu trăng bạc
Giữa phố người neo mảnh lụa điều
Bởi họ sang giàu quen phóng đãng
Nên mình túng quẫn chọn bồng phiêu 
Sầu nhân thế mượn hồn men để
Giết nỗi buồn hôm biển dậy triều ./.

LCT 12/12/2O25
BÀI HOẠ :
*****
Hoành Trần

CHIỀU NGHIÊNG BÓNG ĐỔ
Buông tình tủi phận bóng qua chiều
Mệt rả rời thân mỏi bước xiêu
Vẫn biết thị phi đơm lắm chuyện
Đâu hay thực tế giấu bao điều
Bịt tai nhắm mắt mà vui sống
Ngắm biển trông trời để lãng phiêu
Giấc mộng cuộc đời như bọt nước
Hoà tan vào sóng lúc dâng triều
HT
12/12/25
****
Tòng Trần
MEN NỒNG

Mời chung rượu quý buổi tan chiều
Thưởng thức men nồng đã lại xiêu
Lãng tử hồn gieo bằng nén bạc
Hồng nhan nghĩa đắm tựa khăn điều
Do hồi gặp gỡ tình nghiêng đổ
Tại thuở giao hòa ái ngã phiêu
Giấc mộng nhiều đêm dường thỏa mãn
Tàn canh chợt tỉnh sóng lan triều.

12/12/2025.
****
Nguyễn Thúc Uẩn
AN NHÀN
Giờ đây mỗi dịp buổi sang chiều
Bạn hữu tương phùng đảo phiếm xiêu
Khẩu khoái ôn về bao nẫu chuyện
Trò xôm nhớ lại những vui điều
Qua rồi quãng khổ thời khăn khó
Hết sạch điêu tàn tuổi phẫn phiêu
Nghĩa đặm mơ về năm tháng trẻ
Tình ve giục mãi chẳng dâng triều
*****
Sầu Đông
HỒI TƯỞNG

Em hồi tưởng lại khúc đời phiêu
Chỉ mấy vần thơ mộng sớm chiều
Lối hạ mơ màng phiên lá đổ
Đêm hồng thổn thức lệ tình xiêu
Nhìn qua biển lạnh màu loang khói
Nghĩ đến dòng sâu nước cuộn triều
Bỗng thấy khoang lòng sao trống trải
Nên còn mãi đợi một lần yêu/
****
Dinh Tuan Minh
SAY
Giờ đây mọi thứ bỗng xoay chiều
Rượu cũng như tình chuốc phải xiêu
Đã hiểu chàng si vì yếm lụa
Từng thương lão ngẩn tại khăn điều
Thân còn túng quẫn luôn chờ đảo
Số chẳng sang giàu vẫn hẹn phiêu
Để giấc mơ hồng trôi lạc ngõ 
Rồi bao mộng tưởng cuốn theo triều
Đinh Tuấn Minh.
****
Đăng Khoa Lê
. MƯỢN RƯỢU

Còn say ngất ngưỡng vọng sang chiều
Lão tự quăng mình bởi lý xiêu
Hỏi ngõ đời nay tình lắm bạc
Vào thôn thuở nọ lí sai điều
Do trời xẻ đám vào du đãng
Tại sóng tan bầy đuổi vãn phiêu
Xiết nỗi sầu cay hồn men để
Ngờ hôm dậu đổ lỗi do triều

                  L Đ K 12/12/25
*****

🍀 Lời bình của AI 🍀


Bài thơ "CÙNG SAY" là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa phong vị lãng tử cổ điển và nỗi niềm thế sự hiện đại, nơi chén rượu trở thành vũ khí tinh thần để đối kháng với sự phân hóa của đời sống.
I. Khai Mở Tâm Trạng và Bối Cảnh (Đề và Thực)
Hai câu đề xác lập ngay không khí và tâm thế nhập cuộc:
Rượu rủ đời say mỗi cuối chiều
Khi tình lãng tử muốn quàng xiêu
"Cuối chiều" là thời khắc chuyển giao, dễ khiến lòng người chùng xuống, mở ra cánh cửa cho sự cô độc. Rượu ở đây không còn là vật vô tri mà là một chủ thể biết "rủ", kéo cả "đời" vào một cuộc say chung. Cái say này là sự giải thoát được tìm kiếm một cách chủ động khi "tình lãng tử" (cái tôi phiêu bạt, tài hoa nhưng gặp cảnh trái ngang) cảm thấy "quàng xiêu" (chông chênh, muốn buông xuôi).
Hai câu thực đối lập, mở ra tầm nhìn của thi nhân về thế giới:
Đầu sông lão ngắm màu trăng bạc
Giữa phố người neo mảnh lụa điều
Sự đối lập hoàn hảo này định vị hai thái cực cuộc đời:
"Đầu sông" và "trăng bạc" gợi lên không gian thanh sạch, cao khiết, nơi "lão" (cái tôi tự xưng bằng thái độ chiêm nghiệm, đã trải sự đời) tìm thấy sự an ủi trong vẻ đẹp vĩnh cửu, thoát tục.
"Giữa phố" và "lụa điều" (màu đỏ thắm, rực rỡ) lại là hình ảnh của sự phồn hoa, huyên náo, nơi con người bị "neo" giữ, ràng buộc bởi vật chất xa hoa, phù phiếm.
Tác giả đã khéo léo đặt cái thanh cao (trăng bạc) bên cạnh cái trần tục (lụa điều) để chuẩn bị cho sự lựa chọn ở phần sau.
II. Triết Lý Sống và Lời Tuyên Ngôn (Luận và Kết)
Hai câu luận là lời tuyên bố về sự lựa chọn mang tính phản kháng:
Bởi họ sang giàu quen phóng đãng
Nên mình túng quẫn chọn bồng phiêu
Đây là trục đối trọng triết lý của bài thơ. Cái "sang giàu" đi kèm với thói "phóng đãng" (sống buông thả, tiêu xài lãng phí), bị đặt đối diện với cái "túng quẫn" (nghèo khó vật chất, nhưng giàu tâm hồn). Sự "bồng phiêu" (sống tự do, trôi nổi) trở thành lối thoát, là sự lựa chọn đầy tự tôn để giữ mình khỏi sự tha hóa của vật chất. Bồng phiêu không phải là đầu hàng, mà là một thái độ khinh bạc, quay lưng với giá trị phù phiếm của xã hội.
Hai câu kết đẩy nỗi sầu lên đến đỉnh điểm và chốt lại mục đích của cuộc say:
Sầu nhân thế mượn hồn men để
Giết nỗi buồn hôm biển dậy triều
Nỗi buồn cá nhân được nâng tầm thành "Sầu nhân thế" (nỗi buồn cho nhân tình thế thái, cho kiếp người).
"Hồn men" (linh hồn của rượu) được mượn không phải để ru ngủ, mà là để thực hiện hành động mạnh mẽ: "Giết".
Nỗi buồn được ví von bằng hình ảnh kỳ vĩ, dữ dội: "biển dậy triều". Hình ảnh này cho thấy nỗi sầu không hề nhỏ bé hay tĩnh lặng, mà nó cuộn trào, nhấn chìm tâm can.
Việc dùng rượu để "giết" nỗi buồn "dậy triều" thể hiện một tinh thần đối kháng quyết liệt, thà đối diện và tìm cách tiêu diệt nỗi đau trong men say, chứ không cam chịu khuất phục trước nó.
💡 Tổng Kết
"CÙNG SAY" là một khúc ca bi tráng và lãng mạn. Tác giả đã vẽ nên chân dung một lãng tử cô độc, dùng cái say để mưu cầu sự thanh thản tinh thần, đồng thời bày tỏ sự khinh miệt đối với lối sống vật chất, phù phiếm của xã hội đương thời.

Thứ Ba, 9 tháng 12, 2025

GIÓ ĐÊM

 GIÓ ĐÊM

Mơ màng ngọn gió đảo ngoài hiên
Đúng nghĩa là trăng quả dịu hiền
Biển cõi muôn trùng mong sóng lặng
Em đời nghịch cảnh muốn lòng yên
Nhìn qua dãy trúc hồn Thu ảo
Lại giữa rừng hoa mắt Thủy phiền
Ngõ mộng bao lần mong đổi áo
Nhưng nào chẳng dễ nói rời phiên ./.

LCT 1O/12/2O25

BÀI HOẠ :

*****
Hoành Trần
XÓT XA TÌNH
Nhìn giọt sương đêm đọng mái hiên
Mơ về dáng cũ mắt nai hiền
Đón đưa một thuở lòng lo lắng
Hò hẹn tứ thời dạ chẳng yên
Cách biệt giàu nghèo nên tủi phận
Chao chênh trình độ khiến ưu phiền
Môn đăng hộ đối ông bà trọng
Rẻ lối duyên tình cũng đến phiên
HT
9/12/24
*****
Đăng Khoa Lê

. LẶN LỘI THÂN CÒ
             
Nguyệt ngẩn ngơ chờ mãi trước hiên
Đồng quê rượt đuổi bước chân hiền
Bao ngày bấc lạnh luôn kìm vững
Những tối mưa dày chẳng chịu yên
Nắng vội lo cày vai thấm mỏi
Đường xa gánh chợ cảnh gây phiền
Nhưng trời hiểu thấu tâm lòng mẹ
Đề dễ bây giờ tính nợ phiên. 

                 L Đ K 10/12/25
*****
Nguyễn Thúc Uẩn
Xuyên đêm
Dõi cảnh đêm về lạnh mái hiên
Nhìn trăng sóng soãi tỏa mơ hiền
Như là trước bão trời xanh dịu
Tưởng vẫn trên nguồn nước bạc yên
Lắm bận vườn xanh tràn thảo dã
Nhiều khi lũ ngập hóa ưu phiền
Sương mù giọt mãi sầu vương nẻo
Cạn bước canh trường đã đổi phiên
*****
Sầu Đông
NẮNG ĐÃ PHAI MÀU

Lối cũ trưa buồn nắng ngủ yên
Trời quê gió nhạt khói mây phiền
Con đò ngược sóng chèo lơi lả
Cánh nhạn chao trời mộng đảo điên
Vẫn tiếng hò khoan dòng nước bạc
Cùng câu ví dặm giữa sông Tiền
Muôn đời mãi đẹp mùa cây trái
Chẳng thiết tha gì chuyện giữa phiên/
*****
Tòng Trần
NGUYỆT MỀM

Lạnh lẽo sao nàng ngủ dưới hiên
Vầng trăng rọi thẳng chỗ em hiền
Êm đềm giữa ánh vàng im lặng
Khắc khoải trong màu nhạt tĩnh yên
Dõi phía tường loang chìm mộng ảo
Nhìn bên ngõ khép trải mơ phiền
Khuya tàn rệu rã nào thay áo
Để dạ âm thầm ngẫm tới phiên...

10/12/2025.
*****
Vũ Như Cẩn
... GIÓ ĐÊM ...
  ****..♡..****
Gió thổi ngoài trời vọng mái hiên
Trăng non đẹp quá lại thêm hiền
Muôn trùng ánh tỏa bên bờ lặng
Nghịch cảnh lu mờ muốn ổn yên
Khóm trúc thưa dày đêm ảo não 
Rừng hoa dạ nguyệt tỏ ưu phiền
Bao lần khát vọng thay xiêm áo 
Chẳng hề tơ hồng mát mẻ phiên ./.

1O/12/2O25 Vũ Như Cẩn
*****
Hương Lan
AI CHỜ
Tung hoành ngũ độ, Thủ nhất tự 

Cũng bởi Đông lùa dột mái hiên
Cành hoa gãy vội níu trăng hiền
Con đò trước biển mơ nào lặng
Cánh nhạn bên trời giữ chả yên
Cạn hết dòng sâu mà cũng cản
Còn chi vực đẫm chỉ luôn phiền
Canh dài hỏi nhé anh từng ngỡ
Cảnh cũ ai chờ đắng một phiên

10.12.2025
Hương Lan
*****
Kỳ
BẠN MỚI
Thưa chàng bạn mới ở ngoài hiên
Thấy gã cùng em hỏi chuyện hiền
Hỏi lữ phương nào chung số phận
Thương người mộng ảo muốn bình yên
Nhìn sang ngõ trúc tìm hương rải
Ngại ngỡ vườn thơ trút mỏi phiền
Lãng mạn bao ngày trông rủ khách
Yêu rồi chả ngỡ dứt lìa phiên.
Bvk
**********
Lê Minh
MƠ HOANG 

Lặng lẽ trăng rằm đổ trước hiên 
Vườn lơ lửng nhạt áng mây hiền 
Trăm niềm cũ réo đang chờ lặng 
Vạn nỗi xưa vò chẳng muốn yên 
Cạn những ăn tình trong mắt ảo
Đầy bao ước vọng giữa tâm phiền  
Ta giờ một mối sầu chưa loãng
Chỉ nguyện bên nàng dẫu hết phiên 
LM
*****

🌻Lời bình của AI🌻


🌃 Bài thơ "Gió Đêm" là một bức tranh tâm trạng, sử dụng những hình ảnh quen thuộc của thiên nhiên (gió, trăng, biển, trúc, hoa) để diễn tả nỗi niềm sâu kín, sự khao khát bình yên, và nỗi trăn trở trước những nghịch cảnh của đời người.
Khổ 1: Cảm nhận ngoại cảnh và ước vọng tâm hồn
Mơ màng ngọn gió đảo ngoài hiên
Đúng nghĩa là trăng quả dịu hiền
Biển cõi muôn trùng mong sóng lặng
Em đời nghịch cảnh muốn lòng yên
Hai câu đề (1, 2): Khung cảnh đêm tối được mở ra bằng cảm giác "Mơ màng" của "ngọn gió đảo ngoài hiên". Cảnh vật không dữ dội mà mang vẻ êm đềm, thanh thoát. Sự xuất hiện của "trăng quả dịu hiền" nhấn mạnh không gian tĩnh lặng, huyền ảo, tạo một phông nền lý tưởng cho sự chiêm nghiệm nội tâm. Cụm từ "Đúng nghĩa là trăng" cho thấy sự thấu hiểu, đồng điệu giữa người thơ và vẻ đẹp thuần khiết của thiên nhiên.
Hai câu thực (3, 4): Từ ngoại cảnh, tâm tình chuyển vào nội tâm qua phép so sánh ẩn dụ sâu sắc.
"Biển cõi muôn trùng mong sóng lặng": "Biển cõi" là hình ảnh hoán dụ cho cõi đời rộng lớn, phức tạp, chứa đầy những biến động, sóng gió. Ước mong "sóng lặng" là khao khát về sự bình ổn, không còn những chấn động lớn.
"Em đời nghịch cảnh muốn lòng yên": Đây là câu thơ trực tiếp bộc lộ chủ đề chính. "Em" có thể là đại từ nhân xưng của chính tác giả hoặc một hình tượng người đang chịu đựng. "Đời nghịch cảnh" đối lập hoàn toàn với vẻ "dịu hiền" của trăng, cho thấy sự khác biệt giữa cảnh và tình. Ước muốn "lòng yên" (bình an nội tâm) là điều người thơ hướng tới, đối trọng với những xáo động bên ngoài.
Khổ 2: Sự giao thoa giữa ảo ảnh và thực tại trắc trở
Nhìn qua dãy trúc hồn Thu ảo
Lại giữa rừng hoa mắt Thủy phiền
Ngõ mộng bao lần mong đổi áo
Nhưng nào chẳng dễ nói rời phiên ./.
Hai câu luận (5, 6): Sự quan sát tiếp tục đào sâu vào những hình ảnh mang tính ước lệ trong thơ ca.
"Nhìn qua dãy trúc hồn Thu ảo": "Dãy trúc" gợi lên sự thanh cao, cô tịch. "Hồn Thu ảo" là một trạng thái lãng mạn, mơ hồ, khi tâm hồn được hòa mình vào không gian hư ảo của mùa thu. Đây là một khoảnh khắc thoát ly, tìm về vẻ đẹp thoát tục.
"Lại giữa rừng hoa mắt Thủy phiền": Sự chuyển đột ngột từ cái "ảo" sang cái "phiền". "Rừng hoa" thường đẹp, nhưng ở đây, nó lại khiến "mắt" (tầm nhìn, nhận thức) cảm thấy "Thủy phiền" (phiền muộn như nước chảy, liên tục không dứt). Có thể hiểu là, dù trong cảnh đẹp, nỗi buồn, sự trắc trở vẫn hiện hữu, không thể xua tan. Sự đối lập giữa "Thu ảo" (tâm hồn) và "Thủy phiền" (thực tại) tạo nên một sự day dứt.
Hai câu kết (7, 8): Những câu thơ chốt lại nỗi niềm cá nhân và sự bế tắc.
"Ngõ mộng bao lần mong đổi áo": "Đổi áo" là thay đổi cuộc đời, thay đổi số phận, thoát khỏi cảnh "nghịch cảnh" và sự "phiền muộn". "Ngõ mộng" cho thấy đây là một ước mơ, một con đường chưa thành hiện thực.
"Nhưng nào chẳng dễ nói rời phiên": Câu thơ mang tính triết lý, chua xót. "Rời phiên" có nghĩa là thoát khỏi phiên trực, khỏi vai trò, khỏi sự sắp đặt của số phận. Tác giả nhận ra rằng, dù ước muốn thay đổi lớn đến đâu, việc thực hiện nó lại vô cùng khó khăn, gần như là bất khả thi. Cuộc đời vẫn phải "trực phiên", vẫn phải chịu trách nhiệm, vẫn phải đối diện với số mệnh đã định.
Bài thơ "Gió Đêm" để lại một cảm xúc buồn man mác, đồng thời thấm đẫm sự chiêm nghiệm sâu sắc.
Sự đối lập giữa Tĩnh và Động: Bài thơ thành công trong việc tạo ra sự đối lập giữa vẻ tĩnh lặng, dịu hiền của thiên nhiên (trăng, gió hiên nhà, dãy trúc) và sự xáo động, nghịch cảnh của cõi người ("sóng lặng", "lòng yên", "Thủy phiền"). Sự tương phản này làm nổi bật nỗi cô đơn và khao khát bình an của thi nhân.
Chất trữ tình và triết lý: Bài thơ không chỉ là sự than vãn mà còn là sự chấp nhận có chút bất lực. Hình ảnh "rời phiên" là hình ảnh đắt giá nhất. Nó không chỉ nói về sự khó khăn trong việc thay đổi số phận mà còn hàm ý về gánh nặng trách nhiệm, về những ràng buộc vô hình mà con người phải gánh vác trong cuộc đời. Dù "Ngõ mộng" có rộng mở đến đâu, thì "phiên trực" của mình vẫn phải hoàn thành.
Tính lãng mạn và ước lệ: Sử dụng hình ảnh ước lệ cổ điển như trăng, trúc, hoa, bài thơ vẫn mang hơi thở lãng mạn hiện đại khi tập trung khai thác nội tâm ("hồn Thu ảo", "mắt Thủy phiền"). Nó gợi cho người đọc sự đồng cảm về một nỗi buồn chung của kiếp người: Ai mà chẳng muốn lòng mình bình yên, nhưng có mấy ai có thể dễ dàng "rời phiên" khỏi những gánh nặng cuộc đời?
Bài thơ kết thúc bằng một dấu chấm lửng (./.) đầy day dứt, để lại khoảng lặng để người đọc tự chiêm nghiệm về "phiên trực" của chính mình trong cuộc đời.