TẠ ƠN ĐỜI
Nghiêng lòng cảm tạ bến càn khôn
Bấy thuở buồn vui mộng lỡ hồn
Rượu vẫn xoay vòng đêm tử chiến
Thơ còn chuyển mạch lúc từ hôn
Vào xuân nắng rụng vàng sân bãi
Tưởng gió chiều rơi lạnh lũy đồn
Đẫm dốc sương mù mây nhả sợi
Nghe tình sống lại giữa lòng thôn ./.
LCT O9/O1/2O26
BÀI HOẠ :
*****
Van Tho Vu
HOÀI NIỆM
Mãi nhớ năm nào thuở dại khôn
Từng gom kỷ niệm sưởi tâm hồn
Trao lời hẹn ước xây tình nghĩa
Giữ phút mong chờ gửi nụ hôn
Trống vọng nhà trai ngày báo hỷ
Đàn reo ngõ hạnh nhịp chân dồn
Tơ hồng vạn kiếp ngời gia đạo
Pháo nổ tưng bừng rộn cả thôn.
Van Tho Vu_09/01/2026.
*****
Nguyễn Thúc Uẩn
Nhớ bạn quân
Bạn giữa đang thì tuổi mới khôn
Vào quân phấn khởi dậy tâm hồn
Đau buồn chiến trận đời xuân bỏ
Giã khổ yêu tình mộng giấc hôn
Ảnh vẫn còn đây mờ sương khói
Mà như buổi nọ sáng biên đồn
Đông ngày giá lạnh thầm mong đã
Chiến hữu yên bình trở lại thôn
*****
Đăng Khoa Lê
. CHÉN TỬU GIÃI SẦU
Tuổi hạc vơi dần những trí khôn
Bài thơ lão viết chẳng ra hồn
Còn mong buổi vắng loài hoa nựng
Vẫn mộng đêm dài cảnh gió hôn
Nhớ thưở xuân hồng đi luyện bãi
Vào nơi trận dữ phá công đồn
Nay tìm lửa rực trong người cháy
Rượu lãm chung đầy với cả thôn
L Đ K 09/01/25
*****
Sầu Đông
TÌNH EM
(Hoạ nghịch vận)
Những dạo sương mù rã cuối thôn
Lòng em khắc khoải đứng trông đồn
Thương người chiến sĩ nào câu nói
Với cảnh phong trần chẳng nụ hôn
Khổ mấy dòng thơ vàng cõi mộng
Buồn đêm ngọn gió lạnh tâm hồn
Khi mùa bấc thoảng tràn chân núi
Cảnh chiến chinh kề chữ dại khôn/
SĐ 09/01/2026
*****
Dinh Tuan Minh
BẾN XƯA
Trẻ học chuyên cần đã lớn khôn
Đầu năm ngẫm lại ngất ngây hồn
Như thời đợi ngóng ngày ăn hỏi
Tựa buổi mong chờ lễ đính hôn
Phấn khởi nhìn mây choàng ngập bãi
Mừng vui dõi nắng trải loang đồn
Bên thềm huệ đỏ nhài thơm ngát
Giữa cảnh chim gù rộn xóm thôn
Đinh Tuấn Minh.
*****
Vũ Như Cẩn
TẠ ƠN TRỜI
****..♡..****
Kết nghĩa trời càn dãi đất khôn
Vui thay ước vọng đã giao hồn
Vòng tay tửu cạn vô đêm chiến
Miệng hớp thơ say lúc họp hôn
Nắng chiếu vào sân và cửa bãi
Mùa rơi tuyết lạnh lối làng đồn
Tình trao buổi sớm hồng tơ sợi
Sống mãi lòng tôi ở láng thôn ./.
***
O9/O1/2O26 Vũ Như Cẩn
*****
Tran Tuan Duc
TẠ ƠN ĐỜI
( họa)
Trở giấc đêm dài dạ bỗng khôn
Còn say thức tỉnh bật vô hồn
Mơ vùi nửa miệng tiềm gieo ấp
Ngái ngủ môi hờn ỡm ghị hôn
Tịnh não ngày sau hừng sức bản
Thiền tâm tuổi tới gạt nua đồn
Xin dừng trách khổ bình thân tự
Hãy sướng vui già rộn cả thôn!
*****
Hoành Trần
TÌNH YÊU
Chân thật điêu ngoa hoặc dại khôn
Phải chăng bản tính tự tâm hồn
Bên người khác phái là ưa siết
Cạnh kẻ đang yêu lại muốn hôn
Ai nhớ mong ai nơi hải đảo
Bạn vời trông bạn chốn biên đồn
Cuộc đời nếu thiếu tình trai gái
Sẽ sống hắt hiu giữa xóm thôn
HT
10/1/26
☕Lời bình của AI☕
1/ BÌNH GIẢI
Bài thơ "Tạ Ơn Đời" của tác giả LCT hiện lên như một bức tranh tâm cảnh đầy trầm mặc nhưng cũng vô cùng bao dung, nơi mà từng con chữ đều thấm đẫm triết lý nhân sinh và sự hòa giải với định mệnh. Ngay từ tiêu đề và câu phá đề, ta đã bắt gặp một tâm thế "nghiêng lòng" đầy thành kính trước "bến càn khôn" bao la, một cử chỉ không chỉ là sự khiêm nhường mà còn là cái chạm khẽ của linh hồn vào dòng chảy vĩnh hằng của vũ trụ sau biết bao thăng trầm, dâu bể. Tác giả không ngần ngại phơi bày những "mộng lỡ hồn", những "buồn vui" đã kết tinh thành lớp bụi thời gian, để rồi từ trong đổ nát của niềm riêng, một sức sống mãnh liệt vẫn bền bỉ cuộn chảy qua hình ảnh "rượu vẫn xoay vòng" và "thơ còn chuyển mạch". Hai câu thực đối nhau chan chát nhưng lại hài hòa lạ lùng: cái dữ dội của "đêm tử chiến" và cái se sắt của "lúc từ hôn" dẫu là những vết cắt sâu hoắm vào thân phận, vẫn không thể dập tắt được men say cuộc đời hay mạch ngầm thi ca đang bền bỉ tuôn trào, chứng minh cho một bản lĩnh sống kiên cường, biến bi kịch thành chất liệu cho sự thăng hoa. Để rồi, khi tâm hồn đã đi qua bão giông, nhãn quan của thi sĩ bỗng trở nên tinh khiết đến lạ thường, bắt trọn khoảnh khắc "nắng rụng vàng sân bãi" và cảm nhận được cái "lạnh lũy đồn" trong gió chiều, một sự giao thoa tuyệt mỹ giữa cái nắng ấm áp của thực tại và cái lạnh lẽo của ký ức xa xăm. Cấu trúc bài thơ chuyển dịch từ nội tâm ra ngoại cảnh, từ những va đập của số phận đến sự tĩnh lặng của thiên nhiên, nơi "dốc sương mù" và "mây nhả sợi" dệt nên một không gian huyền ảo, mộng mị, làm nền cho sự hồi sinh kỳ diệu nhất: "nghe tình sống lại giữa lòng thôn". Câu kết không chỉ là sự khép lại của một bài thơ Đường luật mẫu mực về niêm luật, đối trọng, mà còn là sự mở lòng đón nhận một mùa xuân mới của tâm hồn, nơi tình yêu đời, yêu người được đánh thức giữa những gì bình dị, thân thương nhất, biến lời tạ ơn thành một bản giao hưởng nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về sự cứu rỗi của lòng vị tha và niềm hy vọng.
2/ PHÂN TÍCH
Trong mạch cảm xúc dâng trào của sự tri ân ấy, chúng ta hãy cùng lắng lòng để soi chiếu sâu hơn vào những tầng nấc nghệ thuật, nơi các cặp đối luận và hình tượng "rượu – thơ" đã tạc nên một cốt cách thi sĩ đầy kiêu hãnh giữa dòng đời vạn biến.
Trước hết, phép đối trong hai câu thực: "Rượu vẫn xoay vòng đêm tử chiến / Thơ còn chuyển mạch lúc từ hôn" chính là nhịp tim của toàn bài thơ, tạo nên một thế cân bằng tuyệt mỹ giữa cái động và cái tĩnh, giữa sự hủy diệt và sự tái sinh. Nếu "đêm tử chiến" gợi lên những cuộc đối đầu khốc liệt của thân phận với nghịch cảnh, với những mất mát cận kề ranh giới sinh tử, thì hình ảnh "rượu vẫn xoay vòng" lại biểu tượng cho một thái độ ngạo nghễ, một sự tiếp nối không ngừng nghỉ của ý chí. Đối lại với cái dữ dội đó là nỗi đau âm thầm nhưng buốt nhói của "lúc từ hôn" – một sự tan vỡ trong tình cảm, một sự khước từ định mệnh – nhưng kỳ diệu thay, "thơ còn chuyển mạch". Ở đây, thơ không chỉ là nghệ thuật, mà thơ là dòng máu, là dưỡng khí; khi tình yêu đôi lứa rạn nứt thì tình yêu cái đẹp và sự sống vẫn bền bỉ luân chuyển, hàn gắn những mảnh vỡ linh hồn. Hai hình tượng rượu và thơ hiện lên như hai người bạn đồng hành thủy chung nhất của kiếp người: rượu để say với đời, để can đảm đi qua bão tố, và thơ để thanh lọc nỗi đau, để biến những cay đắng thành những vần xoay uyển chuyển, đưa con người vượt thoát lên trên những tầm thường của khổ lụy.
Tiến thêm một bước vào không gian của hai câu luận, ta thấy tác giả đã khéo léo sử dụng thủ pháp lấy động tả tĩnh, lấy cái hữu hình của "nắng rụng", "mây nhả sợi" để đặc tả cái vô hình của tâm trạng. Hình ảnh "nắng rụng vàng sân bãi" không chỉ đơn thuần là một tín hiệu của mùa xuân, mà là sự chắt chiu những tinh túy cuối cùng của ánh sáng để sưởi ấm tâm hồn sau những "gió chiều rơi lạnh". Phép đối giữa "vàng sân bãi" và "lạnh lũy đồn" tạo nên một sự chuyển dịch không gian đầy ám ảnh: từ cái rộng lớn, rực rỡ của hy vọng đến cái thu hẹp, cô tịch của ký ức chiến tranh hay những tàn tích cũ. Tuy nhiên, sự kỳ công nhất nằm ở câu "Đẫm dốc sương mù mây nhả sợi", nơi thiên nhiên không còn là vật vô tri mà đã trở thành một thực thể đang dệt nên tấm lụa của sự sống, nhẹ nhàng bao phủ lấy những vết thương quá khứ. Chính cái mạch "thơ" đã được khơi thông từ trước đó đã dẫn lối cho "tình" được "sống lại giữa lòng thôn" – một sự hồi sinh từ tốn nhưng mãnh liệt, đưa thi sĩ trở về với cội nguồn của bình yên, nơi những giá trị nhân bản đơn sơ nhất trở thành liều thuốc nhiệm màu nhất cho lời tạ ơn sau cuối.









