VINHTHIENTUONG.BLOGSPOT.COM HÂN HẠNH CHÀO ĐÓN CÁC BẠN !

Thứ Tư, 11 tháng 2, 2026

SƯƠNG GIÓ CUỘC ĐỜI

(Bài thơ kính dâng lên Mẹ nhân lần giỗ thứ 34 )

SƯƠNG GIÓ CUỘC ĐỜI

(Thuận nghịch độc,thủ vĩ đồng vận)

Thuận:
Thương mãi mẹ đời tuổi gió sương
Lối quen chiều muộn buổi xa đường
Trường canh gối lạnh tình hong lửa
Đoản mộng ôm hờ bóng xoã gương
Nương náu cảnh buồn thân phận lỡ
Trở trăn người sợ cháu con nhường
Tường loang khói đọng sầu neo cửa 
Tương cháo khổ lòng lệ vãi vương... 

Nghịch:
Vương vãi lệ lòng khổ cháo tương
Cửa neo sầu đọng khói loang tường
Nhường con cháu sợ người trăn trở
Lỡ phận thân nghèo cảnh náu nương
Gương xoã bóng mờ ôm mộng đoản
Lửa hong tình lạnh gối canh trường
Đường xa buổi muộn chiều quen lối
Sương gió tuổi đời mẹ mãi thương ./.

LCT 12/O2/2O26

1/__ Phần Bình giải

Trong không gian tĩnh lặng của những ngày đầu năm 2026, khi cầm trên tay bài thơ “Sương gió cuộc đời” của tác giả LCT, ta không khỏi bàng hoàng trước một chỉnh thể nghệ thuật điêu luyện, nơi mà thể thơ “Thuận nghịch độc, thủ vĩ đồng vận” không chỉ là một sự phô diễn kỹ thuật thượng thừa mà đã thực sự trở thành một tiếng lòng thổn thức về thân phận con người, cụ thể là hình tượng người mẹ. Bài thơ như một dải lụa ngôn từ mềm mại nhưng chứa đựng sức nặng của thời gian, một vòng lặp vĩnh cửu của nỗi đau và tình thương, nơi mà mỗi chữ, mỗi vần đều như được chưng cất từ những giọt lệ thầm kín và hơi ấm của sự hy sinh.
Ngay từ những câu thơ đọc thuận, ta đã bắt gặp một chân dung người mẹ hiện lên giữa muôn vàn gian khó, nơi “tuổi gió sương” không chỉ là thước đo của thời gian vật lý mà là sự chồng chất của những nhọc nhằn, phong trần. Tác giả đã khéo léo sử dụng những hình ảnh đối lập đầy ám ảnh: cái “lạnh” của gối chiếc trong đêm “trường canh” được sưởi ấm bằng ngọn lửa của tình thương, và những “đoản mộng” ngắn ngủi, dở dang soi mình qua bóng gương xõa. Đọc đến đây, trái tim người đọc như thắt lại trước sự “lỡ làng” của thân phận, trước cái “sợ” đầy vị tha của một người bà, người mẹ luôn muốn nhường nhịn mọi điều tốt đẹp cho con cháu, dẫu cho bản thân đang phải “nương náu” trong cảnh buồn. Hình ảnh “tường loang khói đọng” và “tương cháo khổ lòng” không chỉ gợi lên cái nghèo nàn về vật chất mà còn khắc họa sâu sắc cái sầu muộn đang “neo” chặt lấy cửa lòng, khiến nước mắt cứ thế “vãi vương” theo từng nhịp thở của câu thơ.
Tuy nhiên, linh hồn của tác phẩm thực sự thăng hoa khi ta lật ngược lại toàn bộ văn bản để đọc theo chiều nghịch, bởi lúc này, một sự chuyển biến diệu kỳ trong cảm xúc đã diễn ra. Nếu ở chiều thuận, ta thấy một sự buông xuôi, tan tác với “lệ vãi vương”, thì ở chiều nghịch, bài thơ bắt đầu bằng chính cái sự “vương vãi” ấy để rồi dẫn dắt ta quay trở lại cội nguồn của tình yêu: “Sương gió tuổi đời mẹ mãi thương”. Cấu trúc này tạo nên một vòng xoáy tâm trạng không dứt, như cuộc đời người mẹ là một hành trình không có điểm dừng của sự hy sinh; dù đi ngược hay đi xuôi, dù trong sương mù của quá khứ hay gió bụi của hiện tại, thì điểm kết thúc vẫn luôn là tình thương bao la. Những hình ảnh như “lửa hong tình lạnh” hay “đường xa buổi muộn” khi đọc ngược lại bỗng trở nên có sức nặng chiêm nghiệm hơn, như một lời nhắc nhở về đạo hiếu và sự thấu cảm trước những nếp nhăn thời gian trên gương mặt mẹ. Tác giả đã cực kỳ tinh tế khi giữ cho vần “ương” (sương, đường, gương, nhường, vương) xuyên suốt, tạo nên một âm hưởng vang vọng, da diết, vừa nghe như tiếng thở dài, vừa giống như một bản nhạc buồn nhưng thanh cao, làm sáng bừng lên vẻ đẹp của sự chịu đựng và lòng nhân hậu giữa cuộc đời đầy dông bão.

2/_ Phần Phân tích


Tiếp nối dòng chảy của những suy tư về thân phận, ta hãy cùng soi chiếu sâu hơn vào cấu trúc “thủ vĩ đồng vận” và sự hô ứng tuyệt diệu giữa các tầng hình ảnh trong bài thơ, nơi mà mỗi con chữ đều mang trong mình một sức nặng tự sự ghê gớm.
Điểm nhấn làm nên linh hồn của tác phẩm chính là sự tương hỗ giữa các cặp hình ảnh đối lập nhưng lại thống nhất một cách kỳ lạ. Hãy nhìn vào cặp câu thực: “Trường canh gối lạnh tình hong lửa / Đoản mộng ôm hờ bóng xoã gương”. Ở đây, tác giả không chỉ tả cái thực cảnh của một đêm dài cô tịch, mà còn đang chạm vào cái phần sâu kín nhất của tâm hồn người mẹ. “Trường canh” – đêm dài dằng dặc – đối diện với “Đoản mộng” – giấc mơ ngắn ngủi, mong manh. Cái hay nằm ở động từ “hong” và “ôm”. Giữa cái giá lạnh của thực tại, mẹ dùng chính “tình” để sưởi ấm tâm hồn, và dẫu giấc mơ có dang dở, mẹ vẫn nâng niu nó bằng một vòng tay “hờ”, một sự cam chịu đầy tôn quý. Khi đọc ngược lại: “Gương xoã bóng mờ ôm mộng đoản / Lửa hong tình lạnh gối canh trường”, ý thơ bỗng chuyển từ thế chủ động sang thế chiêm nghiệm, nơi cái bóng mờ trong gương và ngọn lửa tình như đang hòa quyện để xóa nhòa ranh giới giữa thực và ảo, giữa nỗi đau và sự vỗ về.
Càng đi sâu vào bài thơ, ta càng thấy hiện lên rõ nét cái “nghịch lý” của hạnh phúc trong cuộc đời người mẹ qua cặp câu luận: “Nương náu cảnh buồn thân phận lỡ / Trở trăn người sợ cháu con nhường”. Sự “lỡ” của thân phận mẹ không được đáp lại bằng sự oán than, mà lại là nỗi "sợ”. Mẹ sợ vì lo mình trở thành gánh nặng, sợ khi phải nhận lấy sự nhường nhịn từ con cháu. Cái sự “nhường” này vừa là đạo đức truyền thống, nhưng qua lăng kính của người mẹ trong thơ, nó lại là một nỗi niềm trăn trở khôn nguôi. Khi đảo ngược thành: “Nhường con cháu sợ người trăn trở / Lỡ phận thân nghèo cảnh náu nương”, nhịp thơ như dồn dập hơn, nhấn mạnh vào cái vòng xoáy của sự nghèo khó và lòng tự trọng, tạo nên một bức tranh nhân văn lay động đến tận cùng tâm khảm.
Kết thúc bài thơ, hình ảnh “Tương cháo khổ lòng lệ vãi vương” không chỉ dừng lại ở một bữa ăn đạm bạc mà nó là biểu tượng cho sự chắt chiu, một cuộc đời được nấu bằng nước mắt. Vần “ương” kết thúc bài thơ thuận và mở đầu bài thơ nghịch như một sợi dây vô hình kết nối quá khứ và tương lai, khiến cho nỗi buồn không bị đứt đoạn mà cứ thế lan tỏa, thấm đẫm vào từng thớ thịt của câu chữ. Bài thơ là một minh chứng cho thấy kỹ thuật “thuận nghịch độc” không hề làm xơ cứng cảm xúc, mà trái lại, nó tạo ra một cấu trúc đa chiều, giúp người đọc thấu thị trọn vẹn sự tảo tần, đức hy sinh vô bờ bến của người mẹ Việt Nam – một người mẹ dẫu trong sương gió cuộc đời vẫn tỏa rạng một thứ ánh sáng ấm áp của lòng nhân hậu.

3/_ Phần so sánh với những tác phẩm viết về mẹ trong thơ cổ điển


Trong sự giao thoa giữa truyền thống và hiện đại, hình tượng người mẹ trong bài thơ của tác giả LCT không chỉ đơn thuần là một bóng hình tảo tần sớm hôm như ta thường gặp trong ca dao, mà còn mang trong mình cái cốt cách của những bậc khuê môn nữ sĩ với một tâm hồn đầy trắc ẩn và sự tự tôn sâu sắc. Nếu trong thơ cổ điển, người mẹ thường hiện lên qua những hình ảnh ẩn dụ như “cò con” hay “chuối mẹ”, thì ở đây, tác giả đã cá thể hóa nỗi đau ấy bằng những chi tiết đầy ám ảnh và góc cạnh hơn.
Bức tranh cuộc đời mẹ hiện lên qua hai câu kết và câu khởi của lối đọc nghịch: “Cửa neo sầu đọng khói loang tường / Vương vãi lệ lòng khổ cháo tương”. Hãy nhìn sâu vào chữ “neo”. Nỗi sầu không trôi đi, không tan biến theo khói bếp mà lại “neo” lại, gắn chặt lấy không gian sống của mẹ. Hình ảnh này gợi nhắc đến cái tình cảnh của những người phụ nữ trong Chinh phụ ngâm hay Cung oán ngâm khúc, nhưng thay vì đợi chờ một tình yêu lứa đôi, người mẹ ở đây lại đối diện với cái nghèo, cái khó của thực tại – “cháo tương”. Cái hay của tác giả là đã nâng tầm cái khổ vật chất lên thành cái khổ của “lòng”, để rồi giọt nước mắt không rơi xuống đất mà lại “vãi vương” vào chính bát cháo tương ấy, tạo nên một sự hòa trộn xót xa giữa vị mặn của lệ và vị đạm bạc của đời.
Sự sáng tạo của LCT còn nằm ở việc sử dụng thủ pháp “Thuận nghịch độc” để diễn tả cái vòng lặp của nghiệp dĩ và đức hy sinh. Ở chiều thuận, ta thấy mẹ đang tiến về phía bóng tối của tuổi già với những lo toan cho con cháu. Nhưng ở chiều nghịch, khi ta đọc từ dưới lên, toàn bộ trật tự thời gian như được đảo ngược, đưa mẹ trở về với tình thương nguyên bản: “Sương gió tuổi đời mẹ mãi thương”. Câu thơ cuối cùng khi đọc ngược lại bỗng trở thành một lời khẳng định đanh thép về giá trị của người mẹ. Dẫu sương gió có phủ bạc mái đầu, dẫu cuộc đời có xoay vần thuận nghịch, thì cái hằng số duy nhất không thay đổi chính là tình thương của mẹ.
So với những bài thơ hiện đại thường viết về mẹ bằng ngôn ngữ đời thường, bài thơ này chọn lối đi khó hơn – lối đi của thi luật nghiêm cẩn – để chứng minh rằng: tình thương của mẹ lớn lao đến mức có thể khỏa lấp cả những rào cản của vần luật, biến những quy tắc khô khan thành một bản nhạc du dương, trầm bổng. Tác giả đã thực sự “nhập thần” vào nhân vật để thấy được cái “trăn trở”, cái “lo sợ” của mẹ, một nét tâm lý rất tinh tế mà nếu không có một sự thấu cảm sâu sắc thì không thể nào hạ bút thành văn tài hoa đến vậy. Bài thơ không chỉ là một tác phẩm để đọc, mà là một không gian để ta soi mình, để thấy được sự vĩ đại ẩn sau những gì bình dị nhất của một kiếp nhân sinh.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét